Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
111
Hôm qua:
305
Tuần này:
111
Tháng này:
1959
Tất cả:
64297

Lịch sử Đảng bộ xã Thọ Cường

Ngày 30/07/2019 07:31:02

Quá trình hình thành và phát triển của xã Thọ Cường

 Lêi nãi ®Çu

Xã Thọ Cường là một vùng quê cả lÞch phát triển lâu đời. Lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng dân cư nơi đây gắn liền với quá trình đấu tranh với thiên tai, địch họa, là quá trình lao động sáng tạo, cần cù và tån tiện và, đồng thời sáng  phát triển,tạo ra những giá trị văn hóa quý giá. Đức tính chịu thương, chịu khó, “ thương người như thể thương thân” luôn là mạch nguồn xuyên suốt trong lối sống, đạo lý của người Thọ Cường.

Trong các cuộc kháng chiến, với ý chí "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", "không có gì quý hơn độc lập, tự do", nhân dân Thọ Cường vững vàng trên mọi mặt trận, vừa xây dựng quê hương, sẵn sàng chiến đấu; vừa cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào người Thọ Cường vẫn phát huy được truyền thống quý báu của quê hương, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc. Để rồi khi non sông thu về một mối, Bắc - Nam ca khúc khải hoàn, c¸n bé, nhân dân xã Thọ Cường vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng các danh hiệu cao quý với nhiều huân, huy chương các loại, cờ thi đua, danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng.

Từ một vùng quê với “chiêm khê, mùa úng”, vượt qua muôn vàn khó khăn, bằng sự lao động cần cù, sáng tạo của mình, Thọ Cường vượt lên giành nhiều thành tích trong sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Trong cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, xây dựng quª h­¬ng giµu ®Ñp, một lần nữa Thọ Cường lại giành được những thành tích rất đáng tự hào. Từ những mái tranh lụp sụp xưa kia, nay đa số nhà dân được ngói hóa, kiên cố hóa, với nhiều tiện nghi hiện đại của thời kì đổi mới. Trường học, trạm xá được xây dựng khang trang, bề thế, đường giao thông được mở rộng qua phong trào “hiến đất”, đang được bê tông hóa, khiến quê hương đổi mới từng ngày. Các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Trong thắng lợi chung đó, một nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trên địa bàn xã. Từ một tổ Đảng được thành lập năm 1947 có 4 đảng viên, năm 1954 thành lập Chi bộ, đến năm 1961 được công nhận là Đảng bộ Thọ Cường và đến nay là một Đảng bộ luôn đạt Trong sạch vững mạnh gồm 12 chi bộ, với 208 đảng viên là một quá trình chiến đấu, dựng xây, phát triển đầy hi sinh và gian khổ.

Để góp phần lý giải, sức mạnh nào đã tạo nên sự thay đổi kỳ diệu ấy, đồng thời ghi lại chặng đường đầy gian khó nhưng cũng rất vinh quang của Đảng bộ; lưu danh đảng viên, quần chúng nhân dân đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, cùng những người đã đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của vì sự nghiệp cách mạng, thực hiện Chỉ thị số 15 - CT/TW, ngày 28 tháng 8 năm 2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa IX), chủ trương của Tỉnh ủy Thanh Hóa và Chỉ thị 26 - CT/HU, ngày 21 tháng 10 năm 2013 về đẩy mạnh công tác biên soạn lịch sử Đảng bộ cơ sở, chấp hành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Thọ Cường (khóa XVII), ngày 10 tháng 8 năm 2008, Đảng ủy xã Thọ Cường xây dựng Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo sưu tầm, biên soạn cuốn lịch sử Đảng bộ Thọ Cường giai đoạn 1954 – 2015. Sự ra đời của cuốn lịch sử Đảng bộ nhằm tổng kết khách quan lịch sử sự ra đời, xây dựng và lãnh đạo của Đảng bộ trong 60 năm qua, cùng với sự lãnh đạo của Đảng bộ đã phát huy truyền thống cách mạng yêu nước của dân ta, tạo ra giá trị tinh thần vật chất mới ngày càng tiến bộ, phát triển, qua đó góp phần giáo dục truyền thống lịch sử Đảng bộ Thọ Cường; làm cho các thế hệ đảng viên tự hào, trân trọng phát huy truyền thống tốt đẹp của Đảng bộ; làm tròn nghĩa vụ của người đảng viên trong các giai đoạn cách mạng mới; “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xây dựng nông thôn mới sớm trở thành hiện thực trên quê hương Thọ Cường.

Cuốn sách “ Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Thọ Cường 1930 - 2015” được suất bản là một công trình ý nghĩa ghi dấu mốc lịch sử 62 năm ngày thành lập xã (10/1953 - 10/1915) 61 năm thành lập chi bộ - Đảng bộ xã Thọ Cường (6/1954 - 6/2015) và chào mừng Đại hội Đảng bộ xã Thọ Cường khóa XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020).

  Quá trình nghiên cứu, biên soạn đã được Ban Tuyên giáo Huyện ủy Triệu Sơn, Hội Khoa học lịch sử Thanh Hóa giúp đỡ, được các đồng chí cán bộ chủ chốt của xã qua các thời kỳ, các bậc tiền bối cách mạng cùng các đồng chí có tuổi đời, tuổi Đảng cao đã góp ý xây dựng. Các đồng chí trong Ban sưu tầm biên soạn đã tận tâm, trách nhiệm hoàn thành suất sắc nhiệm vụ trong suốt 4 năm (2010 - 2014), trong đó trân trọng cảm ơn đồng chí Lê Văn Long nguyên bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã cung cấp nhiều tư liệu quý. Song do thời gian dài, cấp ủy, cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể thay đổi nhiều, tư liệu sử không được ghi chép có hệ thống, do đó cuốn sách không sao tránh khỏi thiếu sót.

Chúng tôi xin trân thành cảm ơn và tiếp thu ý kiến xây dựng của các đồng chí, và bạn đọc gần xa, để lần tái bản và xuất bản giai đoạn tiếp theo đạt kết quả chất lượng tốt hơn.

 

 

                                                 CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI,

CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ

 

                                    i.        VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI.

1.  Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên.

Thọ Cường là một trong 36 xã, thị trấn của huyện Triệu Sơn, cách huyện lị khoảng 13 km về phía Tây, là vùng đất có bề dày lịch sử, nằm trong không gian văn hoá Đông Sơn, một nền văn minh trống đồng phát triển rực rỡ. Nơi có khu di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, một trong những chiệc nôi của phong trào văn hóa, văn nghệ của Liên khu IV và cả nước với nhiều tác gia tên tuổi cả nước biết đến. Phía Bắc giáp xã Thọ Ngọc, phía Đông giáp xã Xuân Thọ, phía Nam giáp xã Thọ Tiến, phía Tây giáp xã Thọ Sơn và Nông trường Sao Vàng.

Diện tích tự nhiên của xã là 586,06 ha, trong đó:

·                 Diện tích đất canh tác: 348,96 ha.

·                 Diện tích đồng cỏ và đất lâm nghiệp: 30 ha.

·                 Diện tích dân cư và công sở: 215,39 ha.

·                 Diện tíc quy hoạch giao thông: 44,29 ha.

·                 Diện tích quy hoạch nghĩa địa: 8,48.

Về địa hình và thổ nhưỡng.

Nghiên cứu lịch sử kiến tạo địa chất đã khẳng định, cũng như nhiều xã trong khu vực, Thọ Cường có địa hình bán sơn địa, thuộc vùng chuyển tiếp giữa đồi núi phía Tây và đồng bằng châu thổ Thanh Hoá, nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Thổ nhưỡng ở đây có nguồn gốc do quá trình phong hóa của các loại đá mẹ và quá trình tích tụ phù sa do các hệ thống sông mà thành. Trải qua hàng ngàn năm tích tụ, bồi đắp của thiên nhiên, cùng với sự cần cù, sáng tạo của con người, vùng đất ấy dần trở thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng. Ngoài nét chung ấy, địa hình của Thọ Cường không đồng nhất như các xã đồng bằng. Bên cạnh những cánh đồng có diện tích tương đối lớn còn có 47 ngọn đồi. Trong đó có ngọn đồi mà nhân dân vẫn gọi là núi Ngọc, có diện tích gần 9 ha, cao 15 mét, thuộc địa phận làng Quần Tín. Trong kháng chiến chống Pháp, núi Ngọc và các nhà dân làng Quần Tín từng là nơi đóng quân của các nhà văn nghệ sĩ, tại đây đã mở các lớp văn hóa văn nghệ kháng chiến, với nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ lớn từng học và giảng dạy. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là nơi đóng quân và luyện tập của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 308. Hiện nay đã được công nhận là khu di tích lịch sử cấp tỉnh.

Với nguồn gốc hình thành và địa hình như vậy, nhìn chung chất đất ở Thọ Cường tương đối phong phú. Bên cạnh đất phù sa cổ không được bồi đắp thường xuyên, còn có nhóm đất bạc màu, rửa trôi, chủ yếu trên các gò đồi mà thảm thực vật ở đây bị khai thác hết. Ngoài ra còn có nhóm đất lầy thụt, thường là phân bố ở các thung lũng chân đồi, đất có nguồn gốc hồ đầm được vật liệu từ trên các đồi núi, khu vực cao lấp dần, đây là đất bị ngập nước quanh năm có lượng mùn cao, đất chua, nghèo ka li, khi trồng lúa cần cải tạo độ chua.

Nhìn chung thổ nhưỡng ở Thọ Cường tương đối thuận tiện cho sản xuất, nhất là trồng lúa nước, ngoài ra còn có diện tích đất gò đồi, có đồng cỏ rộng, có thể phát triển chăn nuôi trâu bò, trồng cây lâm nhiệp và cây công nghiệp ngắn ngày. Từ xa xưa, nhân dân Thọ Cường đã cần cù khai phá tạo nên những cánh đồng phì nhiêu, xóm làng trù phú, phát triển một nền nông nghiệp ngày càng phong phú về sản vật, nuôi sống nhiều thế hệ người địa phương, góp phần đưa Triệu Sơn trở thành huyện trọng điểm lúa của Thanh Hoá.

Khí hậu và thời tiết.

Nằm ở vùng đồng bằng Thanh Hoá, Thọ Cường có chung kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đặc trưng của kiểu khí hậu này là ngoài việc phân bố theo vĩ độ, còn chịu tác động sâu sắc của gió mùa. Khoảng tháng 5 đến tháng 10 hàng năm là mùa nóng ẩm, trùng với gió mùa Đông Nam (còn gọi là gió nồm) từ biển thổi vào mang nhiều hơi nước nên thường gây mưa. Mùa này thường có bão với sức gió mạnh, mưa lớn thường gây nhiều thiệt hại về tài sản và hoa màu của nhân dân. Một kiểu thời tiết khác là gió phơn Tây Nam, còn gọi là gió Lào với tính chất khô nóng gây nên kiểu thời tiết rất khó chịu trong mùa hè. Khoảng tháng 8 (tháng 7 âm lịch) có dãi hội tụ nhiệt đới vắt qua gây nên cảnh khi tạnh, khi mưa, mà nhân dân ta đã thêu dệt nên mối tình dang dở của vợ chồng nhà Ngâu. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là thời kì khô hanh của mùa đông, xen kẽ có những đợt lạnh kéo dài do các khối không khí lạnh lục địa tràn về, gọi là gió mùa Đông Bắc (hay gió bấc). Giữa hai mùa nống ẩm và khô lạnh là mùa chuyển tiếp có thời tiết tương đối dễ chịu. Giai đoạn tháng 2 đến tháng 4 thường có mưa phùn, chính vì vậy tháng 3 là tháng có độ ẩm cao nhất trong năm.

Đặc điểm này đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch thời vụ, đồng thời tạo nên sự đa dạng phong phú cho cơ cấu giống cây trồng ở địa phương, do nhập về những loài cây có nguồn gốc ôn đới như các loại rau mùa đông, tạo điều kiện quan trọng để đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính.

Thời tiết khí hậu đã gây ra không ít tác hại cho sản xuất và đời sống, nhưng nhìn chung, yếu tố thuận lợi vẫn là toàn diện và bao quát.

Hệ thống sông ngòi, ao hồ:

  Thọ Cường không có con sông tự nhiên nào chảy qua, ngoài các suối, rạch nước chảy chủ yếu vào mùa mưa, chạy bên sườn phía Tây của núi Ngọc là chi giang 6, có chiều dài qua xã khoảng 1,5 km, từ đây có hệ thống mương tưới chạy về các xứ đồng, phục vụ cho 258,05 ha lúa và màu trong toàn xã, đồng thời từng là nguồn nước sinh hoạt quan trọng của nhân dân. Chính vì vậy, so với nhiều địa phương khác ở Thanh Hóa, Thọ Cường và các xã trong khu vực tương đối thận tiện về tưới tiêu, phục vụ sản xuất phát triển.

Trong xã có hai hồ lớn là hồ Đồng Quên và hồ Đồng Mốc, diện tích mỗi hồ đều trên 3 ha. Riêng hồ Đồng Quên từng là một rốn nước. Tương truyền xưa kia hồ rất rộng và sâu, cá to và nhiều vô kể, không ai dám đi thuyền ra giữa hồ. Trải qua hàng trăm năm tích tụ các sản phẩm rửa trôi lòng hồ cạn dần. Hiện nay cả hai hồ được cho dân đấu thầu để nuôi cá kết hợp với trồng lúa nước.

Ngoài hai hồ trên, hệ thống ao ở các làng tương đối nhiều nằm xen lẫn vào khu dân cư. Từ xưa, nhân dân đã đào ao để nuôi cá cải thiện đời sống, lấy nước sinh hoạt. Hệ thống ao làng đã tạo nên nét đặc sắc của làng quê, đồng thời góp phần quan trọng  vào việc cải thiện đời sống nhân dân.

2.  Kinh tế - xã hội

Trước kia đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực, Là một vùng quê lấy sản xuất nông nghiệp làm nghề chính mà không chủ động được tưới tiêu.

Từ năm 1896 đến năm 1925, người Pháp đã cho xậy dựng hệ thống thuỷ nông Sông Chu, gồm đập Bái Thượng, 1 kênh đào chính, 2 kênh đào phụ, có tổng chiều dài 110 km và hệ thống chi giang, tiểu câu dài 2.625 km. Từ đây, sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường thuận lợi hơn. Nhưng sống trong chế độ thực dân phong kiến đời sống nhân dân vẫn không được cải thiện. Người nông dân là lực lượng lao động chủ yếu sản xuất ra lương thực, thực phẩm, nhưng bị bóc lột tàn nhẫn, sưu cao thuế nặng, phu phen, tạp dịch liên miên, thiên tai tàn phá mùa màng, hủ tục đè nặng lên cuộc sống làng quê. Ruộng đất tập trung trong tay nhà giàu, người nông dân quanh năm làm thuê cuốc mướn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc. Số đông ngày ba, tháng tám phải ăn rau, ăn cháo cầm hơi, cuộc sống vô cùng khốn khó.

Đến khi hợp tác xã nông nghiệp ra đời, công tác thuỷ lợi mới được chú trọng, hệ thống mương tưới, mương tiêu được củng cố, bờ vùng, bờ thửa được quy hoạch, các tiến bộ khoa học kĩ thuật từng bước được đưa vào ứng dụng nên năng suất lúa dần được nâng lên. Tuy nhiên, điều kiện đất nước còn chiến tranh, hạn chế nhiều mặt, nên sản suất lương thực vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng. Thời gian đầu mới thống nhất đất nước, do cơ chế quản lí không chuyển kịp yêu cầu xã hội, đã kìm hãm phát triển sản xuất, nhiều năm mỗi công lao động chỉ đạt khoảng 1 kg thóc.(1)

Từ khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp, đặc biệt là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về “ Đổi mới cơ chế quản lí kinh tế nông nghiệp” sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường đã có bước nhảy vọt. Người nông dân bước đầu làm chủ trên mảnh ruộng của mình, đầu tư thâm canh, tăng vụ, nên năng suất cây trồng tăng nhanh.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã mang lại nguồn sinh khí mới trong xã hội. Trong sản suất nông nghiệp, các tiến bộ khoa học được đưa vào ứng dụng thường xuyên hơn, dịch vụ sản xuất được cung ứng kịp thời, tiềm lực trong nhân dân được khơi dậy, nên năng suất cây trồng tăng vượt bậc.

Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, liên tục được mùa, đời sống nhân dân ổn định và phát triển, các phong trào của quần chúng ngày một tốt hơn. Trong sản xuất nông nghiệp, Thọ Cường đang chuyển mạnh các giống cây trồng truyền thống sang các cây trồng có giá trị hàng hoá, kinh tế cao. Ngành nghề, dịch vụ, việc làm đang từng bước khởi sắc, tạo nên sự chuyển dịch đáng kể trong tỉ trọng kinh tế của địa phương.

Gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, Thọ Cường đã tích cực chăm lo xây dựng cơ sở vật chất, phúc lợi toàn dân bằng nguồn vốn của tập thể, của nhân dân và một phần hỗ trợ của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, xã Thọ Cường đã xây dựng các công trình như: công trình điện nông thôn, hệ thống đài truyền thanh, trường và bếp ăn bán trú cho học sinh trường Mầm Non, trường Tiểu Học, Trung Học cơ sở hai tầng, khu nhà hiệu bộ trường Tiểu Học theo tiêu chí chuẩn Quốc gia. Hệ thống đường giao thông nông thôn được cứng hóa theo chỉ giới đường liên thôn rộng 9 m, đường nội thôn rộng 5m và từ năm 2010 bắt đầu thực hiện chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn, đặc biệt chỉ trong 03 năm (2011 - 2013) thông qua công tác tuyên truyền vận động đã có 598 hộ hiến 38.160m2 đất thổ cư, tháo dỡ 18.120m2 tường rào xây, 22 quán và bán bình cùng nhiều cây cối, hoa màu khác phục vụ công tác mở rộng đường giao thông nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới, nhân dân tự nguyện đóng góp và làm được trên 9,2 km đường bê tông nộng thôn chuẩn cấp A.

Trong nông nghiệp, Thọ Cường đã tích cực khắc phục khó khăn, thách thức tiến hành CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn kiên cố được 2,7km đường, 5,2 km mương nội đồng phục vụ cho sản xuất, tích cực đưa cây lúa lai, ngô lai vào sản xuất, đến năm 2014 tổng sản lượng lương thực đạt trên 2.800 tấn, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1986.

Ngoài ra, Thọ Cường còn là xã có thế mạnh phát triển công, nông nghiệp và dịch vụ, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư hàng trăm triệu đồng xây dựng các trang trại, gia trại nuôi lợn, vịt siêu trứng, nuôi cá, dịch vụ xay sát và cơ khí…các mô hình này vừa giải quyết được việc làm vừa có thu nhập ngày càng cao. Trong thực tế đã có nhiều hộ gia đình có kinh tế khá, nhà cửa khang trang, cuộc sống ngày một phát triển. Những ngôi nhà bằng, nhà cao tầng đang từng bước thay thế những mái tranh lụp sụp xưa kia. Cuộc sống ấm no, hạnh phúc đang hiển hiện trên đất Thọ Cường vốn giàu truyền thống cách mạng và cần cù, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu.

Truyền thống văn hóa phong phú.

Thọ Cường một xã có nền văn hoá phát triển lâu đời. Mảnh đất và con người ở đây đã chất chứa, thấm đẫm bao giá trị văn hoá, tinh thần tinh tuý từ ngàn xưa để lại. Đây là tài sản vô giá, góp phần tạo nên cốt cách, lối sống của người Thọ Cường hôm nay.

Vượt lên muôn vàn gian khó của một vùng chiêm trũng xen lẫn gò đồi, những hủ tục, lạc hậu, những định chế ràng buộc của chế độ phong kiến, đời sống văn hoá của địa phương vẫn cứ tồn tại, phát triển bền bỉ cùng năm tháng.

Nếp sống văn hoá, đặc biệt là văn hoá dân gian ở đây phản ánh khá rõ đời sống tinh thần của người dân Thọ Cường, vừa mang sắc thái riêng biệt, vừa mang những nét chung của vùng miền. Đến nay, các văn bản chính thức ghi chép được không nhiều, nhưng qua truyền khẩu từ bao đời nay cho thấy văn hoá dân gian ở đây phát triển rất phong phú. Những câu hò vè, những câu ca dao, những bài thơ, phú, chuyện cổ tích nói về đạo lí, tinh thần, về tình cảm, tình yêu lao động, yêu quê hương, đất nước vừa là những bài học đạo đức, răn dạy về lẽ sống, đạo làm người, vừa phản ánh phong tục, đời sống tinh thần khá phong phú của người Thọ Cường- cư dân của nền văn minh lúa nước.

Xưa kia, do điều kiện xã hội, do chính sách chia để trị của bọn thực dân, phong kiến, cuộc sống của người dân thường khép kín sau luỹ tre làng, vì vậy mỗi làng đều có nét văn hoá riêng. Tuy nhiên, có thể thấy, văn hoá dân gian ở đây tương đối đồng nhất do cùng có chung nguồn gốc là làng Quần tín, vừa mang đặc điểm địa phương, vừa có sự hoà trộn, giao thoa với các địa phương trong vùng, cũng như cư dân. Một mặt, có thể do sự du nhập các dòng họ từ ngoài Bắc và các vùng quê đến đây sinh cơ, lập nghiệp, mặt khác, văn hoá Thọ Cườngchịu ảnh hưởng sâu sắc của vùng và do giao thoa văn hóa mang lại.

Trong các làng truyền thống xưa đều có đình. Đình vừa là nơi thờ thành hoàng vừa là nơi sinh hoạt của nhân dân. Ngoài ra trong các làng còn có đền, miếu, nghè thờ thánh thần hoặc những người có công với quê hương, đất nước.

Cũng qua lao động, bằng bàn tay khối óc của mình, người Thọ Cườngđã tạo nên nhiều công trình văn hoá đặc sắc. Trước kia về bất cứ làng nào trong xã cũng bắt gặp các công trình kiến trúc có giá trị văn hoá như đình, chùa, nghè miếu, bia đá....

Cho đến trước cải cách ruộng đất Thọ Cườngcòn giữ được khá nhiều công trình kiến trúc có giá trị văn hoá độc đáo. Việc thờ cúng ở các đền chùa ở Thọ Cườngmột mặt phản ánh nét đặc sắc của nền văn minh lúa nước, mặt khác đây là sinh hoạt văn hóa, tâm linh của dân làng, qua đó để giáo dục con người hướng vào cõi thiện, tránh điều ác, luôn biết ơn những người có công với làng, nước.

Thọ Cườnglà địa phương có truyền thống hiếu học. Từ thuở mở đất, dựng làng, cuộc sống còn chìm trong bộn bề gian khó, người dân nơi đây đã hướng tới sự học với niềm ngưỡng vọng cao siêu nhất. Người có học luôn được kính trọng, được xếp vào hàng trên trong làng.

Người Thọ Cường trước đây học để mong được làm quan, giúp dân, giúp nước, làm rạng danh dòng họ, gia đình, trong sử sách còn ghi vào thế kỷ XVIII-XIX làng Quần Tín đã có những vị đỗ đạt cử nhân, đỗ đại khoa như ông Lê Thức, ông Lê Lâm (có tên trên bia đá Văn miếu quốc tử Giám) tấm gương đó luôn khích lệ cán bộ Đảng viên và nhân dân trong xã. Nhưng nhiều người học chỉ cốt lĩnh hội được ý tứ sâu xa của chữ thánh hiền, giữ đạo nhà, đạo làm người. Trong số họ, nhiều người mở lớp dạy chữ tại nhà, đây là nơi khai tâm, khai trí cho bao lớp người Thọ Cường trước đây.

Có thể nói nhân dân Thọ Cường có đời sống tinh thần rất phong phú. Tìm hiểu kĩ về văn hoá ở đây hé mở cho chúng ta thấy đây thực sự là một vùng quê chất chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hoá và cách mạng.

Nói đến văn hóa Thọ Cường không thể không nhắc đến khu lưu niệm Hội văn nghệ Việt Nam (thời kỳ 1947 – 1954) làng Quần Tín.

               Làng Quần Tín là mảnh đất có vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên trù phú, phía trước làng có giếng nước trong, có hồ lớn là nơi trú ngụ của nhiều loại cá tôm và chim cò, phía sau làng có rừng Đồng Sủng, phía Tây có rừng Mụ Đốp với nhiều cây cổ thụ và các loài muông thú, đặc biệt có thể ẩn nấp mỗi khi có máy bay và những trận càn quét của địch. Xưa kia Quần Tín có 4 điểm canh ở 4 cổng làng, có tuần phủ và thanh niên thay phiên nhau canh gách để chống trộm cướp và kiểm soát người qua lại vào làng. Trong làng còn có một ngôi đền, một ngôi đình rộng và 1 ngôi trường của tổng Tam Lộng rất thuận tiện cho hội họp và tổ chức các khóa học. Bên cạnh đó còn có nhiều ngôi nhà rộng của nhân dân với vườn tược rộng rãi, thuận tiện cho sinh hoạt, ở và làm việc cho những gia đình văn nghệ sĩ tản cư về đây.

          Sau khi cuộc kháng chiến bùng nổ, nhiều cơ quan nhà nước và nhân dân Hà Nội phải di tản vào vùng tự do Thanh Hóa. Trường văn hóa nghệ thuật đầu tiên mở ở làng Bôn (Đông Sơn) nhưng không an toàn nên được chuyển về làng Quần Tín. Quần Tín là một làng có đủ các yếu tố thuận lợi và đặc biệt là con người nơi đây hết lòng vì cách mạng, vì thế từ cuối năm 1947 đến năm 1954, Quần Tín đã được chọn và trở thành “an toàn khu” để Hội văn nghệ Việt Nam cũng như một số nhà chính trị, quân sự về đây hoạt động, học tập.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chính quyền địa phương, Quần Tín trở thành một địa chỉ, một cái nôi tin cậy nuôi dưỡng, che trở cho các văn nghệ sỹ, các học giả nổi tiếng tản cư trong kháng chiến chống Pháp. Gia đình các nhà văn: Nguyễn Tuân, Đặng thai Mai, Nguyễn Đình Lạp, Trương Tửu; nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh; các họa sỹ Nguyễn Văn Tỵ, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn; nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim, gia đình nhà văn Vũ Ngọc Phan từng ở Quần Tín. Các vị lãnh đạo ở Trung ương của Đảng cũng về đây để bàn kế sách đánh Pháp. Với Phương châm thực hiện khẩu hiệu 3 không: Không nghe, không biết, không thấy, nhân dân làng Quần Tín đảm bảo bí mật tuyệt đối góp phần vào thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

         Trên cơ sở  đường lối văn nghệ của Đảng với phương châm. Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. Văn nghệ Việt Nam thời kỳ này được xác định là mặt trận tư tưởng của Đảng với việc thực hiện khẩu hiệu: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Cùng với các hoạt động văn hóa, các lớp văn hóa kháng chiến được mở để đáp ứng yêu cầu cách mạng, đồng thời lớp Đại học văn hoá khoá 1, khoá 2, khóa 3 được mở tại Quần Tín, do Thầy Đặng Thai Mai làm hiệu trưởng. Địa điểm lớp học là ngôi đình làng và ngôi trường của Tổng Tam Lộng (nơi dạy lớp đồng ấu của làng được nhường làm nơi cho cho khoá học Đại học Văn nghệ Kháng chiến). Có các giảng viên có uy tín trong văn học nghệ thuật về giảng dạy như: Nhà văn – nhà lý luận văn học Đặng Thai Mai, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Hải Triều, Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Tôn Quang Phiệt, Giáo sư Đào Duy Anh (Trong thời kỳ chống Pháp, ông là trưởng ban Sử - Địa thuộc Vụ văn học nghệ thuật, bộ giáp dục) giáo sư Trương Tửu v.v … Tướng Nguyễn Sơn cũng thường xuyên đến đây trao đổi về văn học, nghệ thuật với học viên.

Tại ngôi đình này, ngoài các giáo viên nêu trên, còn có các nhà chính trị, nhà thơ, nhà văn tham gia giảng dạy và tham gia nói chuyện tại lớp văn hóa kháng chiến, như các đồng chí: Hồ Tùng Mậu, Trường Chinh, Nguyễn Văn Giàu, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Xuân Diệu, Nguyễn Thi, Tố Hữu…

Bên Cạnh các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu còn có các họa sĩ, các nhà điêu khắc nổi tiếng như: Nguyễn Văn Tý, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim... Một số bức tranh nổi tiếng nhu: “Tình quân dân”, “Hạnh phúc”, “du kích Cảnh Duơng” được sáng tác tại Quần Tín. Ngoài việc sáng tác, các hoạ sỹ còn mở các lớp học, hay nói chuyện sinh hoạt các câu  lạc bộ văn hoá tại nhà ông Vệ Tu (bà Mợi)(Hoạ sỹ Vũ Giáng Hương Học vẽ đầu tiên ở đây); Bài thơ màu tím hoa sim; bài ca vỡ Đất; đêm nay Bác không ngủ; Phá đường và nhiều tác phẩm văn học, hội học khác đã được sáng tác ở địa danh này.

Có thể nói, tuy các lớp về văn hoá kháng chiến chỉ  đuợc đào tạo ngắn hạn, trong điều kiện thiếu thốn về vật chất, các phuơng tiện đồ dùng học tập nhưng với sự nhiệt tình của người dạy và sự chăm chỉ miệt mài học tập của đội ngũ học viên nên các học viên sau khi ra truờng, có nhiều nguời thành  đạt, trở thành những người nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Nguyễn Mạnh Cầm - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tuớng chính phủ - Bộ trưởng  Bộ ngoại giao nuớc Cộng hoà  xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phan Diễn Ủy viên Bộ Chính trị, nhà văn Vũ Tú Nam - Tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam, Hoàng Trung Thông - Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, Thanh Huơng - Tổng biên tập  Báo Phụ nữ Việt Nam, Vũ Thị Giáng Huơng - Chủ  tịch  Liên  hiệp các văn học Nghệ thuật Việt  Nam, Giáo sư Vũ Tiên Hoàng, nhà thơ Minh Huệ, nhà thơ Cẩm Lai...

Nhµ «ng Lª §×nh Lam, khu rừng Mụ Đốp được chọn làm nơi ở và doanh trại cho Tưíng Nguyễn Sơn, Tại đây vị Tướng “lưỡng quốc” tài ba Nguyễn Sơn đã cưới cô Hoàng Huân (dì ruột của hoạ sỹ Vũ Giáng Hương) và sinh cô Nguyễn Thị Hà ở Quần Tín  ...

Bên cạnh việc đón tiếp các gia đình văn nghệ sỹ, Hội văn  nghệ Việt Nam, các nhà chính trị, quân sự đến sinh sống và làm việc nói trên còn, có các đồng chí đến công tác, đến học tập tại Truờng Văn  học Nghệ thuật như: Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Huyền Tuân, PhanVăn Vịnh, Vũ Tiên  Hoàng, Vũ Huyền Sao, Việt Hùng, Việt Hải, Trần Văn Giàu, Đại tá Hoàng Điềm, Hoàng Trung Thông, Hồng Chuơng, Trần Hữu Thung, Cẩm Lai, Nguyễn Hữu Loan, Minh Huệ, Nguyến Sỹ Ngọc...

Làng  Quần Tín còn là nơi thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả: Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 2 năm 1951, gia đình Hoàng  thân  Xu - Va - Nu - Vông đã đuợc bà con trong làng che chở, bảo vệ an toàn trong thời gian lưu trú tại làng. Có thể nói tấm  lòng  của bà con nhân dân làng Quần Tín đã thể hiện nghĩa tình thuỷ chung của mối tình truyền thống hữu nghị Việt Lào anh em. 

          Căn cứ vào các tiêu chí và giá trị của di tích. Ngày 31 tháng 1 năm 2013, Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh hoá đã ký Quyết định số 418- Bằng xếp hạng Di tích Cấp tỉnh -  Địa điểm khu lưu niệm Hội Văn nghệ Việt Nam  (thời kỳ 1947 – 1954) làng Quần Tín thuộc di tích lịch sử các mạng.

        Ngày 10 tháng giêng - ngày hội truyền thống của làng (ngày 19/2/2013), Đảng bộ Thọ Cường và nhân dân làng Quần Tín, long trọng tổ chức lể đón nhận  Bằng di tích lịch sử cách mạng, có các đồng chí đại diện cho các cấp huyện, tỉnh, Trung ương Hội Văn học Nghệ thuật về dự, là niềm tin, là bước khởi đầu cho tiếp tục nhiệm vụ tiếp theo là đề nghị xếp hạng công nhận di tích cấp quốc gia và cho xây dựng các công trình xứng tầm với khu di tích làm cơ sở để lưu danh các thế hệ đi trước, giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.

II. CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ.

1. Lịch sử hình thành làng xã.

Quá trình hình thành làng xã ở Thọ Cường là quá trình đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, với giặc dã để tồn tại và phát triển. Trong cuộc đấu tranh ấy, nhân dân Thọ Cường đã bồi đắp và sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phong phú, góp phần hình thành nên sắc thái văn hoá, cốt cách của người Triệu Sơn hôm nay.

Trải qua hàng trăm năm lịch sử, các đơn vị dân cư ở Thọ Cường đã nhiều lần thay đổi tên gọi, điều chỉnh địa giới hành chính và luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của huyện Thọ Xuân - Triệu Sơn.

Cho đến nay chưa tìm được tư liệu ghi chép cư dân đầu tiên đến cư trú ở Thọ Cường vào thời gian nào. Tuy nhiên, trong dân gia vẫn lưu truyền câu truyện: đầu thế kỉ XV, Lê Lợi hành quân qua và nghỉ lại ở làng Quần Tín, được thành hoàng làng báo mộng chỉ hướng cho nghĩa quân đi. Quả nhiên, trận ấy thắng lớn. Bỏ qua mọi yếu tố tâm linh, thần bí, có thể suy đoán rằng, cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV, khu vực này đã hình thành làng tương đối sầm uất. Theo truyền thuyết dân gian, cũng như các cứ liệu lịch sử thì làng Quần Tín được hình thành sớm hơn cả, sau đó cộng đồng dân cư trong xã từng bước hình thành, đa số xuất phát từ “cái nôi” Quần Tín (Tam Lộng), một số khác cư dân từ nơi khác đến lập thành làng lân cận.

Theo sách Tên làng xã đầu thế kỉ XIX (Các tổng, trấn, danh, bị, lãm)(2) do triều đình nhà Nguyễn biên soạn, giai đoạn này các làng của Thọ Cường thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa. Thời kì này tổng Tam Lộng có 17 xã, thôn, trong đó có thôn Quần Tín, thôn Cự, thôn Sống…thuộc xã Thọ Cường ngày nay(3).

Đến cuối thế kỉ XIX, theo sách Đồng Khánh Địa chí dư (1885 – 1888), tổng Tam Lộng có 30 xã, thôn, so với đầu thế kỉ thêm 13 thôn, trong đó thấy có thôn Nỗ Kiến. Như vậy thời kì này xã Thọ Cường có 4 thôn là Quần Tín, thôn Cự, thôn An Sinh (thôn Sống trước kia) và thôn Nỗ Kiến, cả 4 thôn này đều thuộc xã Tam Lộng.(4) Như vậy có thể khẳng định cả 4 làng truyền thống trong xã Thọ Cường ngày nay đều có chung nguồn gốc.

            Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng của Thọ Cường ngày nay vẫn thuộc tổng Tam Lộng huyện Thọ Xuân. Từ  tháng 12 năm 1945 đơn vị tổng bị bãi bỏ các làng của Thọ Cường thuộc xã Đại Đồng huyện Thọ Xuân. Năm 1947, xã Đại Đồng sáp nhập với Duy Tân (nay là Thọ Ngọc) và xã Thọ Sơn, thành xã Đoàn Kết, đến năm 1948 đổi thành xã Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Đến tháng 9 năm 1953, Thọ Xuân chia 22 xã lớn thành 54 xã, xã Thọ Ngọc chia thành các xã: Thọ Cường, Thọ Ngọc, Thọ Sơn, các làng Quần Tín, Yên Sinh (làng Sống), thôn Cự, Nỗ Kiến thuộc xã Thọ Cường, Huyện Thọ Xuân, Từ năm 1965 đến đến nay là xã Thọ Cường thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1991, theo Quyết định 787 của UBND tỉnh Thanh Hóa, hình thành các thôn trên cơ sở các đội sản xuất của HTX nông nghiệp toàn xã, cùng với chức danh bầu trưởng thôn, xã Thọ Cường có 9 thôn, nay gọi là làng văn hóa gồm: Quần Tín, Yên Sinh, Nỗ Kiến, Yên Tiến, Cự tín, Cự Tiến, Nông Sơn, Đồng Cầu, Ngọc Thanh.

Để hiểu rõ hơn nguồn gốc hình thành cư dân nơi đây, xin được khái lược về lịch sử hình thành các làng.

          Làng Quần Tín.

           Tục truyền rằng trước thế Kỷ 14, có ba anh em ông Lê Tộc Căn người làng Trung (nay thuộc xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn) Theo vết đàn cò đến làng Quần Tín (với quan niệm đất lành cò đậu) để khai phá rừng rậm, khai khẩn đất đai, sinh cơ lập nghiệp và lập nên làng, gọi làng là Cò Soi (cò soi đường). Trước làng có giếng nước thiêng do cô Tiên khi gánh một bên là núi Ngọc, một bên là núi Nưa, chẳng may bị sỉa chân mà thành giếng. Tương truyền dưới đáy giếng vẫn còn nguyên hình gót chân cô Tiên in trên khối tảng đá. Cả hai ngọn núi này đều trở thành núi thiêng. Núi ngàn Nưa là nơi bà Triệu luyện binh khởi nghĩa có Huyệt đạo quốc gia, núi Ngọc của xã cũng là một nơi đầy huyền bí với bao huyền thoại về Bà Triệu, Lê Lợi, từng là địa điểm dã ngoại huấn luyện tân binh của bộ đội thời chống Mỹ.

        Chuyện kể rằng, vào đầu thế kỷ XIV, Bình Định Vương Lê Lợi hành quân qua và nghỉ tại làng đã được dân làng đón tiếp ân cần, cung cấp lương thảo. Ban đêm Lê Lợi được vị thần báo mộng rằng: “sáng sớm nhà ngươi ra giếng làng, thấy làn khói bốc lên từ  giếng bay về hướng nào thì tiến quân về hướng ấy ắt thắng trận”. Quả nhiên, trận ấy Bình Định Vương Lê Lợi thắng lớn, khi trở về, nhà vua đã sắc phong ban thưởng cho dân làng và đặt tên làng là làng Quần Tín (nơi hội tụ của niềm tin), cho lập đền thờ vị thần làm thành hoàng làng vào ngày mùng 10 tháng giêng, từ đó đến nay làng lấy ngày này làm ngày hội truyền thống của làng.

          Đầu thế kỷ thứ XIX thời vua Gia Long (1802-1819) làng Quần Tín thuộc tổng Tam Lộng, Huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa; Đến thời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) Quần Tín là một trong 6 thôn (An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến)  thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 làng Quần Tín vẫn thuộc Tổng Tam Lộng, huyện Thọ Xuân. Từ  tháng 12 năm 1945 làng Quần Tín  thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân. Từ năm 1947 đến tháng 9 năm 1953 thuộc xã Đoàn Kết, sau đổi thành xã Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Từ tháng 10 năm 1953, huyện Thọ Xuân chia 22 xã lớn thành 54 xã, làng Quấn Tín thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân. Từ tháng 2 năm 1965 đến nay làng Quần Tín thuộc xã Thọ Cường huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

              Làng Quần Tín là vùng đất nóng bỏng trong chiến tranh Trịnh – Mạc ở thế kỷ XVII. Đồng thời cũng là vùng đất lịch sử sôi động với phong trào Cần Vương chống Pháp ở thế kỷ XIX, sự quật khởi của nhân dân trong Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi ở địa phương. Đặc biệt là nơi ở tản cư và hoạt động của Hội Văn Nghệ Việt Nam thời kỳ 1947 – 1954. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Quần Tín đã đón tiếp, trở che, bảo vệ nhiều cán bộ của Đảng và Nhà nước, tướng lĩnh trong quân đội, đặc biệt là nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà điêu khắc…tên tuổi đã từng công tác và học tập tại đây. Ghi nhận những thành tích đóng góp của Quần Tín, ngày 31 tháng 1 năm 2013, Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh hoá đã ký Quyết định số 418 Bằng xếp hạng: Địa điểm khu lưu niệm Hội Văn nghệ Việt Nam (thời kỳ 1947 – 1954) làng Quần Tín thuộc di tích lịch sử các mạng cấp tỉnh.

   Làng Yên Sinh và làng Yên Tiến:

Đây cũng là một làng có truyền thống phát triển lâu đời. Vào đời vua Gia Long (1802 – 1819) làng có tên gọi là thôn Sống, thuộc tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa; đến thời vua Minh Mạng thứ hai (1821) làng Sống được đổi là thôn Yên Sinh, đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) thôn Yên Sinh là một trong 6 thôn (An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến) thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thôn Yên Sinh vẫn thuộc Tổng Tam Lộng, Huyện Thọ Xuân, Từ  tháng 12 năm 1945 đơn vị tổng bị bãi bỏ thôn Yên Sinh thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân. Từ năm 1948 đến tháng 9 năm 1953 thuộc xã Đoàn Kết, sau đổi thành xã Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Từ tháng 10 năm 1953 làng Yên Sinh thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân. Từ tháng 2 năm 1965 thuộc xã Thọ Cường, huyện Triệu Sơn và được chia thành 2 làng: làng Yên Sinh, làng Yên Tiến và duy trì ổn định tới nay.

            Làng Kiến An:

Cho đến nay chưa xác định được khi mới thành lập tên làng như thế nào. Trong sách Địa chí huyện Triệu Sơn, xuất bản năm 2010 cho rằng Nỗ Kiến có từ đầu thế kỉ XIX. Đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888), Nỗ Kiến là một trong 6 thôn (An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến) thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 thôn Nỗ Kiến thuộc Tổng Tam Lộng Huyện Thọ Xuân. Từ  tháng 12 năm 1945 đơn vị Tổng bị bãi bỏ, làng Kiến An  thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân, từ năm 1947 đến tháng 9 năm 1953 thuộc xã Đoàn Kết, sau đổi thành Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Từ tháng 10 năm 1953 làng Kiến An thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân và từ tháng 2 năm 1965 đến nay làng Quần Tín thuộc xã Thọ Cườnghuyện Triệu Sơn. tỉnh Thanh Hóa.    

Làng Cự Tiến, Cự Tín:

Trong sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX, vào đời vua Gia Long, thôn Cự thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa. Sách Đồng Khánh địa chí dư (1885 – 1888) xuất bản vào thời Nguyễn, cũng như sách Dư địa chí huyện Triệu Sơn xuất bản năm 2010 đều ghi: cuối thế kỉ XIX, thôn Cự là một trong 6 thôn gồm: An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến của xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Sau Cách mạng Tháng Tám, thôn Cự vẫn thuộc tổng Tam Lộng, huyện Thọ Xuân. Từ tháng 12 năm 1945, cấp tổng bị giải thể, thôn Cự thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân. Từ năm 1947 đến năm 1953, thôn cự thuộc xã Đoàn Kết, (sau đổi thành xã Thọ Ngọc,) huyện Thọ Xuân. Từ năm 1953, chia các xã lớn thành các xã có quy mô nhỏ hơn, xã Thọ Cường ra đời, thôn Cự thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân. Theo Địa chí huyện Triệu Sơn thì thời kì này làng được chia thành 2 thôn là Cự Tiến và Cự Tín. Từ tháng 2 năm 1965 đến nay hai thôn Cự Tiến và Cự Tín thuộc xã Thọ Cường, huyện Triệu Sơn.

Làng Nông Sơn: được tách ra từ làng Quần Tín, khai trương xây dựng làng văn hóa vào ngày 28 tháng 4 năm 2005. 

Làng Ngọc Sơn: được hình thành từ năm 1965 chủ yếu là dân di cư từ Nam Hà, Nam Định vào trước đây.và gọi là thôn 2, đến năm 2013 khai trương xây dựng làng văn hóa và đặt tên là làng Ngọc Sơn.

  Làng Đồng Cầu: Được thành lập từ năm 1991, là làng mới được tách ra từ làng Yên Sinh, Kiến An và một số hộ dân làng Quần Tín, Cự Tín, Cự Tiến, yên Tiến, Làng đã tổ chức khai trương xây dựng làng văn hóa ngày 16 tháng 12 năm 2005, được công nhận làng văn hóa cấp huyện ngày 21 tháng 7 năm 2013.

Có thể thấy quá trình hình thành và phát triển công đồng dân cư ở Thọ Cường kéo dài qua nhiều thế kỉ. Có làng hình thành từ trước thế kỉ XV như làng Quần Tín, có làng chỉ được hình thành từ năm 1991, khi UBND tỉnh Thanh Hóa có chủ trương chuyển đổi mô hình đội sản xuất trong HTX nông nghiệp toàn xã thành thôn như làng Đồng Cầu. Có những làng như Ngọc Sơn (thôn 2) năm 2013, khi khai trương xây dựng làng văn hóa mới chính thức có tên làng. Xã Thọ Cường cũng đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và tên gọi, luôn gắn liền với phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân xã nhà. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, nhân dân Thọ Cường đã đoàn kết một lòng và tạo dựng nên những giá trị vật chất và tinh thần phong phú. Đó là cội nguồn sức mạnh để lớp lớp người Thọ Cường viết nên những truyền thống tốt đẹp của quê hương.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                  Chương II

THAM GIA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH  THẮNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1930-1954) 

 

           I.        THỌ CƯỜNG THAM GIA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945.

         Vào những năm cuối của thế kỉ XIX và những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào đấu tranh yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản không giành được thắng lợi vì thiếu đường lối khoa học và cách mạng triệt để. Những năm 20 của thế kỉ XX, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê nin, tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Lúc bấy giờ “ Người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú phải có nhiệm vụ thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”.(5) Sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng là việc ra đời tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạnh đồng chí Hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trên cơ sở này, năm 1926, đồng chí Lê Hữu Lập về Thanh Hóa thành lập “Hội đọc sách báo cách mạng”. Cũng trong năm này “Hội đọc sách báo cách mạng ở Thọ Xuân được thành lập, do đồng chí Nguyễn Mậu Sung khởi xướng, tại làng Quần Kênh (nay thuộc xã Xuân Giang). Từ đây phong trào cách mạng ở Thọ Xuân có bước phát triển mới.

Thời kì này, phong trào cách mạng ở Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Để thống nhất các tổ chức Cộng sản, ngày 2 tháng 3 năm 1930, tại Hương Cảng, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Từ đây phong trào cách mạng ở nước ta chính thức có một Đảng Cộng sản duy nhất lãnh đạo.

Là một địa phương có phong trào cách mạng phát triển mạnh, ngày 22 tháng 7 năm 1930, Chi bộ Đảng Thọ xuân chính thức được thành lập tại Yên Trường.

Sự ra đời Chi bộ Thọ Xuân có ý nghĩa quyết định đến phong trào cách mạng của huyện. Đặc biệt giai đoạn dân chủ 1936 – 1939, khi Mặt trận Nhân dân Pháp chống phát xít được thành lập, Mặt trận này giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử ở Pháp và đứng ra thành lập nội các. Đối với các nước thuộc địa, Mặt trận đã đề ra cương lĩnh ân xá tù chính trị, ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

Trước tình hình ấy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã định ra đường lối, phương pháp đấu tranh trong tình hình mới. Tháng 12 năm 1936, Ban Chấp hành  Đảng bộ tỉnh mở rộng đã họp tại làng Yên Lộ (Thiệu Hóa) đề ra biện pháp đẩy mạnh các phong trào đấu tranh trong tỉnh. Hội nghị đã chỉ rõ, phải triệt để lợi dụng khả năng hoạt động công khai và bán công khai để tập hợp quần chúng đòi quyền dân sinh, dân chủ. Giai đoạn này tại các địa phương có phong trào cách mạng mạnh như: Long Linh Ngoại, Lê Xá, Quần Kênh…đã thành lập được Hội tương tế ái hữu tập hợp quần chúng giúp đỡ nhau trong cuộc sống, đòi quyền dân sinh dân chủ, đấu tranh chống áp bức, bóc lột.

Đây là giai đoạn phong trào cách mạng trong tỉnh, nhất là các huyện Thiệu Hóa, Đông Sơn, Thọ Xuân (trong đó có nhiều làng ở Triệu Sơn) phát triển mạnh. Do các hoạt động cách mạng giai đoạn này ở hình thức bán công khai và công khai, các tờ báo của Đảng được tuyên truyền rộng rãi, nên ảnh hưởng của các phong trào cách mạng lan rộng khắp nơi, trong đó có nhân dân Thọ Cường.

Đặc biệt, năm 1937 đồng chí Trịnh Khắc Sản, là một đảng viên từ làng Long Linh Ngoại đến làng Quần Tín sinh sống(6). Đồng chí được tổ chức phân công mở lớp học chữ quốc ngữ và tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho nhân dân. Thông qua các lớp học chữ quốc ngữ, đồng chí Trịnh Khắc Sản đã tập hợp quần chúng, chủ yếu là lớp thanh niên tiến bộ, để tuyên truyền đường lối cách mạng, tài liệu chủ yếu là các bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, những bài viết trên các báo Tia Sáng, báo Nhành lúa, do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh phát hành. Qua học tập và các sách báo công khai, nhân dân Quần tín nói riêng, tổng Tam Lộng nói chung hiểu thêm về những bất công của chế độ cũ, yêu cầu cấp thiết phải tổ chức các hội quần chúng tạo thành sức mạnh đoàn kết để đấu tranh chống lại cường quyền, áp bức. Trên cơ sở sự giác ngộ của quần chúng nhân dân, năm 1937, Hội “Tương tế, ái hữu” làng Quần Tín được thành lập.

Có thể nói, Hội tương tế ái hữu làng Quần Tín ra đời, mở đầu cho quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Thọ Cường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Từ đây phong trào được lan rộng ra các làng trong xã, trong tổng. Hội Tương tế ái hữu làng Quần Tín đã quên góp tiền, thóc đã giúp đỡ các hội viên mỗi khi trong nhà có việc lớn như: làm nhà, cưới vợ cho con, việc hiếu… Ngoài ra còn giúp các hội viên sản xuất như: tạo vốn mua lợn giống, thóc giống, mua đồ nghề cắt tóc, thợ mộc… Khi phong trào phát triển mạnh ra nhiều làng trong xã, hoạt động của Hội tương tế ái hữu ngày càng phong phú và được nâng lên một bước cao hơn. Nhiều làng đã vận động nhân dân đấu tranh đòi bỏ các hủ tục lạc hậu, lệ đóng góp trong việc làng, đấu tranh chống “Dự án thuế thân”, “Dự án thuế điền thổ”…

Giữa năm 1937, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trịnh Khắc Sản, Hội tương tế ái hữu các làng đã vận động cử tri đi tham gia bỏ phiếu Viện dân biểu Trung Kỳ. Hội tương tế ái hữu đã vận động cử tri bỏ phiếu cho ứng cử viên của Mặt trận dân chủ. Khu vực Thọ Xuân, những nhân sĩ tiến bộ do Mặt trận giới thiệu đều trúng cử.

Thời kì này, đồng chí Trịnh Khắc Sản vừa tham gia trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Thọ Cường và tổng Tam Lộng, vừa lãnh đạo phong trào cách mạng của huyện Thọ Xuân. Tháng 6 năm 1938, sau khi kết nạp được 4 quần chúng vào Đảng, đồng chí Trịnh Khắc Sản đã tuyên bố thành lập Chi bộ Long Linh Ngoại gồm 5 đồng chí, do đồng chí Trịnh Khắc Sản làm Bí thư.

Tuy nhận nhiệm vụ mới, nhưng đồng chí Trịnh Ngọc Sản vẫn cùng một số đồng chí khác, thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng tại Thọ Cường. Đây là giai đoạn Hội tương tế ái hữu ở Thọ Cường, cũng như huyện Thọ Xuân hoạt động rất sôi nổi, liên tiếp các cuộc đấu tranh đòi công điền, công thổ, “cải lương hương tục”, giảm bỏ tệ “xôi cân, gà lượt”…do Hội tương tế ái hữu các nơi lãnh đạo thắng lợi đã cố vũ nhân dân Thọ Cường rất nhiều.

Giữa lúc phong trào dân chủ đang phát triển mạnh mẽ thì tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Tại Pháp, chính quyền phản động lên cầm quyền, phong trào cách mạng ở Đông Dương bị khủng bố gắt gao. Ở Thọ Xuân, nhiều tổ chức Đảng bị vỡ, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đầy, phong trào cách mạng, trong đó có hoạt động của Hội tương tế ái hữu ở Thọ Cường có phần lắng xuống.

Có thể nói, phong trào dân chủ (1936 – 1939) diễn ra trên đất Thọ Cường không dài, nhưng có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn. Cùng với phong trào học chữ quốc ngữ và việc hình thành Hội tương tế ái hữu. Qua các phong trào này, dân trí của nhân dân trong các làng được nâng lên, những tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tài liệu cách mạng của Nguyễn Ái quốc được truyền bá vào nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Qua hoạt động của Hội tương tế ái hữu, bước đầu chỉ là giúp nhau trong cuộc sống, nhưng trên thực tế là sự tập hợp quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống áp bức, đòi quyền dân sinh, dân chủ. Đây là chủ trương của Đảng ta với phương châm tổ chức quần chúng cách mạng từ thấp lên cao, từ đòi quyền lợi kinh tế đến đấu tranh cách mạng

Trước phong trào cách mạng ngày một lên cao, toàn quyền Pháp ở Đông Dương ra lệnh cấm tuyên truyền cộng sản. Thọ Xuân, chính quyền thực dân tăng cường lùng sục bắt bớ các cơ sở cách mạng của ta. Tiếp nhận chỉ thị của Đảng, các cán bộ hoạt động hợp pháp và bán hợp hợp pháp rút vào hoạt động bí mật.

Năm 1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp nhượng bộ rồi từng bước cấu kết với Nhật, tăng cường vơ vét của cải, bóc lột tài nguyên của nước ta. Những cánh đồng lúa ở Thọ Cường xanh mơn mởn thấm bao mồ hôi, công sức của người nông dân, bị chúng bắt nhổ đi để trồng đay. Tàn ác hơn, chúng còn thông qua bộ máy hương lí, chức dịch trong làng dò xét từng nhà lập danh sách ép phải bán thóc cho chúng. Vốn là vùng quê chiêm trũng, thiếu đói quanh năm, nay lại phải bán thóc cho Nhật với giá rẻ mạt, người dân Thọ Cường vốn đã nghèo khó càng thêm khốn khó.

Nhân dân Thọ Cường một cổ 2 tròng áp bức, xiết bao đau khổ. Tuy nhiên, càng bị áp bức, nhân dân càng hướng về cách mạng với một niềm mong mỏi, có một ngày phá hết xiềng gông, sống cuộc đời tự do.

Tháng 1 năm năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngày 10 tháng 5 năm 1941, tại Cao Bằng, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã được triệu tập, Hội nghị xác định đường lối cách mạng nước ta trong giai đoạn này là “ đánh Pháp, đuổi Nhật, Đông Dương hoàn toàn độc lập” và quyết định thành lập ‘Việt Nam Độc lập đồng minh hội”, gọi tắt là Việt minh.

Đầu năm 1943, Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hoá chắp mối liên lạc với Trung ương Đảng, được công nhận là Tỉnh uỷ chính thức và được  tiếp nhận nội dung Nghị Quyết Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng. Thực hiện tinh thần Nghị quyết TW 8, Tỉnh ủy Thanh Hoá đã chuyển Hội Thanh Hoá ái quốc thành mặt trận Việt Minh. Tháng 9 năm 1943 đồng chí Trịnh Ngọc Điệt trở về Thọ Xuân triệu tập hội nghị đại biểu ”Ái quốc hội” của một số tổng hai huyện Thọ Xuân và Thiệu Hóa để truyền đạt tinh thần nghị quyết TW 8. Hội nghị chủ trương chuyển ”Ái quốc hội” sang tổ chức Việt Minh, xúc tiến thành lập các tổ chức cứu quốc và thành lập Ban cán sự Việt Minh huyện Thọ Xuân.

Trước tình hình đó, được sự chỉ đạo của Mặt trận Việt minh huyện, các Hội ái quốc đã chuyển thành Hội cứu quốc. Nhân dân Thọ Cường sống rên xiết dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, ách thống trị của bọn phong kiến, nay vùng dậy hưởng ứng phong trào. Việc thành lập Mặt trận Việt minh ở Thọ Cường bắt đầu từ làng Quần Tín rồi lan rộng ra các làng. Đến đầu năm 1945, các làng ở Thọ Cường đều thành lập được Mặt trận Việt Minh

Những hội viên Việt Minh ở các làng, các tổng thực hiện kế hoạch của tổ chức đã tiến hành rải truyền đơn, dán khẩu hiệu cách mạng ở những nơi công cộng tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến và đi vào quần chúng nhân dân tuyên truyền đường lối phản đế quốc, phản phong kiến của Mặt trận Việt Minh, vận động quần chúng nhân dân không nộp sưu, không đi phu, đi lính cho Pháp - Nhật.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng bộ Việt Minh, toàn dân sắm vũ khí giết kẻ thù chung, khắp các làng nhân dân góp tiền mua sắm vũ khí, nhiều gia đình còn ủng hộ dao, cuốc, xẻng...để các đội cứu quốc để rèn giáo, mác...

Tình hình cách mạng có những chuyển biến mạnh mẽ, để chuẩn bị lực lượng, cùng cả nước khởi nghĩa, ngày 14 tháng 6 năm 1944 Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh đã được tổ chức. Hội nghị bàn biện pháp thống nhất các phong trào cách mạng trong tỉnh, chuẩn bị tổng khởi nghĩa, đồng thời bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đồng chí Tố Hữu được bầu làm bí thư.

Bước sang năm 1945, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, ở châu Âu, hồng quân Liên Xô giáng những đòn quyết định vào bọn phát xít Đức, ở châu Á, Nhật thất bại liên tiếp trên chiến trường, ngày 9 tháng 3 năm 1945 ở Đông Dương, Nhật đảo chính Pháp.

Trước tình hình đó, Đảng ta ra chỉ thị “ Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, thay khẩu hiệu “ Đánh đuổi Nhật - Pháp” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, gấp rút tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Giữa năm 1945, tình hình thế giới có nhiều thuận lợi cho cách mạng Việt Nam, ngày 9 tháng 8 năm 1945, phát xít Đức kí văn bản đầu hàng đồng minh không điều kiện, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng đồng minh. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 8 năm 1945, tại Hội nghị mở rộng họp tại nhà ông Tô Đình Bảng làng Mao Xá (Thiệu Hóa), Tỉnh ủy đã quyết định chớp thời cơ phát động nhân dân trong tỉnh đứng dậy giành chính quyền.

Thực hiện Chỉ thị của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thanh hoá, Ban cán sự Việt Minh huyện Thọ Xuân đã tổ chức Hội nghị thành lập Ủy ban khởi nghĩa huyện, đề ra phương pháp tiến hành khởi nghĩa, dự kiến Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời của huyện do đồng chí Hoàng Sĩ Oánh làm Chủ tịch.

Ở Thọ Cường, đêm 18 tháng 8 năm 1945, tại khu vực đồng Má của làng Kiến An đã diễn ra hội nghị do đồng chí Nguyễn Mậu Kiện chủ trì, hội nghị đã bầu đồng chí Trịnh Văn Quyết làm Tổng ủy đứng lên vận động nhân dân làm cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng sự giác ngộ cách mạng của quần chúng nhân dân, xã Thọ Cường đã xây dựng được đội du kích do đồng chí Trịnh Văn Quyết chỉ huy. Trong quá trình hoạt động, một mặt tiếp tục phát triển về lực lượng, mặt khác tăng cường giáo dục chính trị nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng cho quần chúng chuẩn bị tham gia tổng khởi nghĩa.

Dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Sĩ Oánh, Hoàng Văn Cài, Nguyễn Mậu Kiện, tờ mờ sáng ngày 19 tháng 8 năm 1945, cùng với quần chúng nhân dân trong huyện, lực lượng tự vệ tổng Tam Lộng, trong đó có tự vệ Thọ Cường giương cao cờ, biểu ngữ, giáo, gậy gộc, giáo mác tiến về bao vây huyện đường. Trước sức mạnh của lực lượng cách mạng, tri huyện Phan Quốc Lương và nha lại buộc phải đầu hàng, giao lại đồng triện, giấy tờ cho cách mạng.

Theo lệnh của Ban khởi nghĩa, quần chúng cách mạng đi về các làng bắt lí trưởng các làng nạp đồng triện, đồng bài. Cờ đỏ sao vàng bay phất phới, biểu ngữ dương cao, khí thế cách mạng sục sôi, tiếng mõ, tiếng kim khí, tiếng hô khẩu hiệu náo động cả vùng, đoàn đi đến đâu, chính quyền phong kiến tự tan rã đến đấy, không gặp bất sự kháng cự nào. Chế độ phong kiến ngàn năm ở Thọ Cường đã bị xoá bỏ.

Cách mạng Tháng Tám đi vào lịch sử Thọ Cường như một mốc son chói ngời của tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, từ thân phận một người dân nô lệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Thọ Cường đã vùng dậy phá tan ách xiềng gông, làm chủ quê hương, đất nước, làm chủ cuộc đời mình. Một trang sử mới đã mở ra, một chặng đường cách mạng mới bắt đầu.

                                II.        XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN, ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN (1945 - 1946).

Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời có những thuận lợi, nhưng cũng phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách. Trung tuần tháng 9 năm 1945, hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa quân đội đồng minh kéo đến giải giáp quân đội Nhật đã kéo vào Miền Bắc nước ta. Thực hiện âm mưu trở lại xâm lược Đông Dương một lần nữa, ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó đánh chiếm Nam bộ và Trung bộ. Trong nước bọn phản cách mạng ngóc đầu dậy chống phá. Trong khi đó chính quyền cách mạng còn non trẻ, kinh tế, xã hội đang trong cơn khủng hoảng trầm trọng. Đứng trước những khó khăn thử thách đó, chính quyền cách mạng của Thọ Cường đã lãnh đạo nhân dân từng bước vượt qua mọi khó khăn, cùng cả nước giữ vững thành quả cách mạng. Với quyết tâm bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, chính quyền và nhân dân Thọ Cường tập trung thực hiện các nhiệm vụ lớn mà chính phủ đề ra.

1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền.

Cách mạng thành công, thực hiện chủ trương của Chính phủ, tháng 12 năm 1945, chính quyền huyện đã giải thể đơn vị cấp tổng, thành lập đơn vị hành chính cấp xã, các làng của Thọ Cường ngày nay thuộc xã Đại Đồng.

Để đáp ứng yêu cầu cách mạng trên địa bàn xã, một trong những yêu cầu trước mắt là phải xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, coi đây là nhiệm vụ then chốt để lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn. Một mặt Việt Minh và chính quyền xã Đại Đồng luôn bám sát chủ trương, hướng dẫn của chính quyền cách mạng huyện, mặt khác, tìm các nhân tố mới từ phong trào quần chúng, bồi dưỡng, thử thách trong thực tiễn để tạo nguồn cán bộ cho địa phương. Trên cơ sở khối đoàn kết toàn dân, chính quyền cách mạng ở Đại Đồng được củng cố từ xã đến các thôn xóm, những người có năng lực, có phẩm chất được lựa chọn, giao các nhiệm vụ trong chính quyền, đoàn thể.

 Bên cạnh việc củng cố chính quyền về mặt tổ chức, vấn đề nâng cao trình độ, chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc cho cán bộ chính quyền cũng được chú trọng. Thực hiện chỉ đạo của huyện, Thọ Cường đã tổ chức học tập bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Uỷ ban các cấp vào tháng 10 năm 1945. Qua học tập, mọi người đều hiểu sâu sắc lời dạy của Người, từ nay “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.(7) Thấm nhuần lời dạy của Người, cán bộ Đại Đồng, cũng như các làng ở Thọ Cường ra sức học tập, tu dưỡng, xứng đáng là đầy tớ trung thành của nhân dân, việc gì có lợi cho dân thì kiên quyết làm, có hại cho dân thì kiên quyết tránh8.

Sau Cách mạng Tháng Tám, các tổ chức quần chúng Thọ Cường phát triển nhanh nhưng chưa chặt chẽ về tổ chức, nhiều cán bộ tỏ ra lúng túng trong giải quyết công việc ở giai đoạn cách mạng mới. Cuối năm 1945, Việt minh huyện Thọ Xuân mở lớp huấn luyện ngắn ngày kết hợp với việc củng cố các tổ chức chính trị ở cơ sở, các đồng chí trong Việt Minh và Chính quyền xã Đại Đồng đã tham dự. Tại đây các đồng chí được phổ biến tình hình thế giới và trong nước; Lịch sử cách mạng Việt Nam; Điều lệ Việt Minh; Tổ chức chính quyền cách mạng...Qua lớp học, các đồng chí cán bộ ở Đại Đồng hiểu rõ thêm về chức năng, phương pháp vận động, xây dựng các tổ chức quần chúng ở địa phương, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển các tổ chức chính trị ở xã.

Về phía thực dân Pháp, sau Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, chúng vẫn ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta một lần nữa. Để có lực lượng bảo vệ chính quyền cách mạng và góp phần tham gia kháng chiến, chính quyền mới ở Đại Đồng rất coi trọng việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. Trên cơ sở các đội tự vệ cứu quốc trong tổng khởi nghĩa, các đội được bổ sung thêm quân số. Các đội viên tham gia đội tự vệ của tổng Tam Lộng trước đây nay đa số đều trở thành lực lượng nòng cốt. Ủy ban cách mạng phân công đồng chí ủy viên phụ trách quân sự trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng đội tự vệ và huấn luyện quân sự ở các làng, cứ mỗi làng thành lập một trung đội, cả xã thành lập một đại đội. Lực lượng tự vệ đã góp phần tích cực giữ gìn an ninh, chính trị địa phương, đóng góp nhiều công sức trong sản xuất và các mặt công tác khác.

Chính quyền cách mạng mới được thành lập, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhưng yêu cầu lực lượng vũ trang phải được củng cố để đối phó với thù trong, giặc ngoài, trước tình hình đó Đảng và Chính phủ ta phát động “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ đồng”để có ngân sách và vật liệu rèn vũ khí cho bộ đội chủ lực. Nhận thức rõ ý nghĩa to lớn của của công việc này đối với vận mệnh quốc gia, nhân dân Nhân Thọ đã hăng hái tham gia. Nhiều gia đình đã xung phong đóng góp mâm đồng, nồi đồng, thậm chí những đồ cúng bằng đồng như: lư hương, lục bình, đế nến... cũng được đem đến ủng hộ. Kết quả, trong đợt vận động, Đại Đồng đã ủng hộ được 3 lượng vàng và hàng trăm ki lô gam đồng. Qua việc hưởng ứng “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ đồng”, nhân dân Đại Đồng thể hiện quyết tâm bảo vệ nền độc lập  Tổ quốc.

2. Tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống chính trị ở Đại Đồng cũng như các địa phương trên cả nước mới là chính quyền lâm thời, do thành quả đấu tranh cách mạng mang lại chứ chưa phải do nhân dân bầu ra. Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, thiết lập chế độ cộng hoà, xây dựng hệ thống chính quyền của dân, do dân bầu ra, mà trước hết là bầu cử Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chính quyền lâm thời xã đã gấp rút chuẩn bị cho ngày tổng tuyển cử.

Ban bầu cử của xã và các thôn nhanh chóng được thành lập, nòng cốt là hội viên của các hội cứu quốc. Sau khi đi tập huấn công tác bầu cử ở huyện về, chính quyền xã đã mở hội nghị tập huấn cho những thành viên trong Ban bầu cử, cán bộ chính quyền và đoàn thể các thôn nắm rõ ý nghĩa, mục đích của đợt tổng tuyển cử và phương pháp tiến hành bầu cử.

Để người dân hiểu được ý nghĩa to lớn của cuộc bầu cử này, chính quyền xã rất coi trọng công tác tuyên truyền, vận động. Việt Minh và chính quyền đã tổ chức nhiều hình thức vận động, tuyên truyền cho ngày bầu cử. Khắp các thôn xóm ở Đại Đồng đều tổ chức các cuộc hội nghị của các đoàn thể, chuẩn bị cho công tác bầu cử. Ban bầu cử các thôn và cán bộ các đoàn thể đến từng nhà vận động bà con đi họp, giải thích những điều bà con chưa hiểu rõ về cách thức bầu cử mới. Trong các thôn xóm, nhân dân hăng hái tham gia các hoạt động hưởng ứng ngày tổng tuyển cử như biểu diễn văn nghệ, sáng tác thơ ca, hò vè...Các cháu thiếu niên tổ chức cổ động, rước đuốc.  Hai bên đường, khắp nẻo thôn xóm, khẩu hiệu được viết trên các nong, nia, các tấm ván, cổ động cho ngày bầu cử: “Việt Nam độc lập muôn năm!”, “Đi bỏ phiếu vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của người công dân!” “Đi bỏ phiếu là yêu nước!”...Làng quê Đại Đồng náo nức như trong ngày hội lớn.

Mặc dù nhân dân Đại Đồng nhiều người chưa biết chữ, nhưng nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, nhất là nhờ có Ban bầu cử và các tổ chức đoàn thể đến từng nhà phân tích, giải thích nên mọi người thấm nhuần ý nghĩa của cuộc bầu cử, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần làm chủ của công dân, tích cực tham gia bầu cử, lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội.

Từ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1946, khắp các làng đã nghe tiếng loa của các thành viên trong đội tuyên truyền nhắc nhở nhân dân đi bỏ phiếu. Ai nấy đều quần áo chỉnh tề, các cụ già trang phục áo dài, khăn xếp, chống gậy đi bầu cử, niềm vui, niềm tự hào của người dân một nước độc lập rạng ngời trên nét mặt mọi người. Đây là lần đầu tiên trong đời, họ được cầm lá phiếu lựa chọn những đại biểu thể hiện cho nguyện vọng, ý chí của mình gánh vác nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.

Chỉ trong buổi sáng hôm ấy, hầu hết các cử tri đã có mặt thực hiện quyền công dân cao cả của mình, số người ốm đau không đi được, Ban bầu cử đã đem hòm phiếu lưu động đến từng nhà cho cử tri bỏ phiếu. Kết quả, đến 17 giờ cùng ngày có gần 100% cử tri Đại Đồng đã tham gia bỏ phiếu.

Sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử Quốc hội, tháng 4 năm 1946, Đại Đồng tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Được sự chỉ đạo trực tiếp của huyện, chính quyền lâm thời phối hợp với Việt minh tiến hành hiệp thương, lựa chọn đại biểu ra ứng cử. Một số các cán bộ cốt cán của các phong trào cách mạng, phong trào quần chúng, những người có phẩm chất đạo đức, có trình độ học vấn, có đóng góp cho cách mạng...đã được giới thiệu vào danh sách đề cử. Cuộc bầu cử đã tiến hành thuận lợi và thành công tốt đẹp, Hội đồng nhân dân xã Đại Đồng được thành lập đã bầu ông Trịnh Như Đương làm Chủ tịch.

Các thành viên trong UBHC xã còn có: Phó Chủ tịch UBND xã; Ủy viên quân sự; Ủy viên tư pháp; Ủy viên tài chính; Ủy viên thư kí.

Các đoàn thể cũng được thành lập gồm: Chủ nhiệm Việt Minh(9); Bí thư Phụ nữ Cứu quốc; Bí thư Nông dân Cứu quốc; Bí thư Thanh niên…

Cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở Đại Đồng thắng lợi đã góp phần vào thắng lợi chung, đánh mạnh vào âm mưu của kẻ thù chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, hòng lật đổ chính quyền non trẻ của ta, thể hiện ý thức làm chủ của người công dân một nước độc lập. Đây thực sự là một cuộc vận động chính trị rộng lớn và sâu sắc trong toàn xã, biểu dương sức mạnh và ý chí sắt đá của khối đoàn kết toàn dân. Qua cuộc bầu cử, nhận thức của người dân Đại Đồng được nâng lên rất nhiều, nhân dân càng thêm tin tưởng vào chế độ mới.

Từ đây, nhân dân Đại Đồng có chính quyền trực tiếp do mình bầu ra, đại biểu cho nguyện vọng, ý chí, thể hiện khối đoàn kết toàn dân, gánh vác nhiệm vụ quan trọng, lãnh đạo nhân dân giải quyết những khó khăn trong đời sống, kinh tế, xã hội của thời kì sau Cách mạng Tháng Tám.

3. Ổn định đời sống nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám thành công, lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang một trang mới, từ đây nhân dân ta hoàn toàn làm chủ cuộc đời mình. Cùng với cả nước, nhân dân Đại Đồng hăng hái bắt tay dựng xây chế độ mới. Tuy nhiên, tình hình xã hội lúc bấy giờ cực kì khó khăn, kinh tế địa phương kiệt quệ, vụ đói tháng 3 năm 1945 làm một số người chết đói vẫn chưa chấm dứt mà còn có cơ trầm trọng hơn, đồng ruộng hoang hoá. Vụ chiêm năm ấy, Đại Đồng tiếp tục bị mất mùa nặng, số người thiếu ăn phải ăn cháo, ăn rau, ăn củ chuối phổ biến.

Cán bộ tuy nhiệt tình, có trách nhiệm cao, nhưng còn trẻ, công việc mới mẻ, mỏng về lực lượng, tình hình xã hội lại hết sức khó khăn, nên không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng. Lực lượng dân quân tự vệ tuy vẫn duy trì hoạt động nhưng gặp nhiều khó khăn về kinh phí, lợi dụng tình hình ấy, bọn phản động trong vùng ngóc đầu dậy chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, lập ra các tổ chức phản  động, hoạt động trên nhiều địa phương của huyện, tỉnh.

Trước tình hình đó, chính quyền cách mạng ở Đại Đồng tập trung thực những nhiệm vụ cấp bách mà phiên họp đầu tiên của Chính phủ đã nêu ra. Trong đó đặc biệt coi trọng 3 việc: chống giặc đói, chống giặc dốt và chống giặc ngoại xâm.

Cùng với quá trình củng cố chính quyền, một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách đối với chính quyền mới là phải giải quyết nạn đói và từng bước ổn định đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “...Chúng ta đã tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(10). Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, chống giặc đói cũng như chống giặc ngoại xâm, từ xã đến làng ở Đại Đồng khẩn trương lập Ban cứu trợ. Các tổ nhóm vận động lạc quyên nhanh chóng được hình thành và hoạt động tích cực. Phong trào “nhường cơm xẻ áo”, “đồng tâm bớt bữa” được dấy lên rộng khắp các làng quê Đại Đồng với nhiều hình thức mang nặng nghĩa tình.

Cùng với biện pháp thực hành tiết kiệm, giúp đỡ người nghèo, thực hiện chỉ thị của Chính phủ, chính quyền Đại Đồng đã phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống đói. Chính quyền đã tiến hành tịch thu công điền, công thổ chia cho những người không có ruộng, đồng thời động viên nhân dân vỡ hoang để có đất sản xuất, kết quả, đã có hàng chục mẫu ruộng chia cho dân nghèo. Để giải quyết nạn đói trước mắt, chính quyền khuyến khích nhân dân trồng các loại cây ngắn ngày như các loại rau, khoai lang, bầu bí...Khắp làng trên, xóm dưới, khẩu hiệu “ Tấc đất tấc vàng” được viết trên các bản tin, trên nong, nia nhắc nhở mọi người hăng say sản xuất. Tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Ủy ban tăng gia sản xuất của tỉnh Thanh Hoá, động viên nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Chỉ 5 tháng sau, nhiều diện tích hoang ở Đại Đồng đã phủ xanh rau màu, góp phần quan trọng vào việc giải quyết nạn đói.

Nhờ tiến hành hàng loạt các biện pháp, nhất là tinh thần tương thân, tương ái của nhân dân ta mà nạn đói bước đầu được ngăn chặn, cả xã không có người chết đói.

Việc chống nạn mù chữ, mở mang dân trí là một nhiệm vụ cấp bách mà chính quyền cần tập trung giải quyết. Trong lúc tình hình đất nước gặp muôn vàn khó khăn, ngày 8 tháng 9  năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã kí sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ. Trong bức thư kêu gọi toàn dân học tập, Người đã viết: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết, phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Chính quyền xã đã thành lập Ban bình dân học ở xã, mỗi thôn thành lập một tiểu ban để triển khai việc học tập.

Để đáp ứng yêu cầu của công tác xoá mù chữ, chính quyền huyện Thọ Xuân đã mở lớp cấp tốc đào tạo giáo viên, Đại Đồng đã cử người dự học, kịp thời bổ sung cho số giáo viên thiếu hụt. Khi phong trào phát triển mạnh, hình thức học tập rất phong phú, lớp học được tổ chức khắp nơi: đình, chùa, trong các gia đình...tất cả những người biết chữ đều có thể trở thành giáo viên dạy học. Ai nấy đều hăng hái thực hiện lời kêu gọi của Cụ Hồ: Người biết chữ nhiều dạy cho người biết chữ ít, người biết chữ ít dạy cho người chưa biết chữ. Những người chưa biết chữ thì gắng học, vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo. Nhân dân tạo mọi điều kiện để học tập, không có giấy thì viết xuống đất, xuống sân, không có phấn, có mực thì viết bằng than, bằng gạch. Trên các vách nhà, cánh cửa, trên nong, nia cũng được viết chữ để đi đâu, làm gì cũng có thể học được. Người ta còn tổ chức các đội cổ động dựng cổng trào ở cổng chợ, ở ngã ba đường, ai đọc được chữ mới được đi qua. Phong trào bình dân học vụ đã tạo nên một không khí thi đua sôi nổi chưa từng thấy ở làng quê Đại Đồng. Nhờ có sự chỉ đạo của Việt Minh và chính quyền, sự nổ lực của các tổ chức đoàn thể và toàn dân, phong trào diệt dốt đã thu được kết quả tốt đẹp. Cuối năm 1948 xã được công nhận thanh toán xong nạn mù chữ, nhiều người được nhận huy hiệu “ Chiến sĩ diệt dốt” .

Việc chăm sóc sức khoẻ và phòng ngừa dịch bệnh cho nhân dân được chính quyền hết sức quan tâm. Trước đây, dưới chế độ cũ người dân Đại Đồng sống trong điều kiện xã hội hết sức lạc hậu, điều kiện kinh tế khó khăn nên dịch bệnh, đau ốm triền miên. Cả làng dùng chung một chiếc giếng đất, hoặc dùng nước sông nông giang nên các bệnh ngoài da, bệnh đường ruột...thường xuyên xảy ra. Trước tình hình ấy, chính quyền cách mạng đã phát động phong trào “Ăn sạch, uống sạch, ở sạch”, phát động toàn dân tham gia dọn vệ sinh, nhà cửa, thôn xóm, tổ chức đào giếng, nạo vét cống rãnh, làm nhà vệ sinh...Những người có tay nghề được vận động chữa bệnh phục vụ nhân dân.

Xây dựng nếp sống văn hoá mới cũng là một công việc mà chính quyền tập trung chỉ đạo. Trong suốt đêm trường nô lệ, bọn thực dân, phong kiến đã thực hiện chính sách ngu dân với bao hủ tục lạc hậu, nhiều nhà phải bán đất, bán ruộng vì lệ làng. Nhiều người không lấy được nhau vì thách cưới...Khi có cuộc vận động “ xây dựng nếp sống mới”, ở Đại Đồng đã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi. Được sự vận động của chính quyền và các đoàn thể, những người hành nghề phù thuỷ, bói toán đã bỏ nghề, lệ cưới xin, ma chay tốn kém dần bị đẩy lui. Trong các cuộc họp của các đoàn thể, phong trào xây dựng nếp sống mới luôn được thảo luận sôi nổi, đã tạo nên một bước chuyển trong nếp nghĩ, lối sống ngàn đời của nhân dân. Từ thực tế cuộc sống, nhân dân càng tin tưởng vào chính quyền cách mạng, dốc sức dựng xây xã hội mới.

Nhận thức rõ nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn này, chính quyền cách mạng ở Đại Đồng một mặt ra sức củng cố chính quyền, ổn định đời sống nhân dân, một mặt cùng với cả nước, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến. Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập trong Cách mạng Tháng Tám càng làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào sức mạnh của sự đoàn kết. Vấn đề có ý nghĩa quan trọng của địa phương là phải xây dựng thực lực của chính quyền cách mạng. Chính quyền phải có đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân thực hiện các phong trào cách mạng. Đồng thời xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tranh thủ mọi tầng lớp, ổn đời sống nhân dân, chuẩn bị sức người, sức của tham gia kháng chiến. Nhờ đó mà chính quyền ở Đại Đồng từng bước trưởng thành, lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn thử thách ban đầu, chuẩn bị bước vào giai đoạn cách mạng mới.

                 III.                    CHI BỘ ĐẢNG RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG, CÙNG CẢ NƯỚC TIẾN HÀNH CUỘC TRƯỜNG KÌ KHÁNG CHIẾN. ( 1947-1950)

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng ta đã thấy rõ, thực dân Pháp sẽ xâm lược nước ta một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã tranh thủ mọi điều kiện để chuẩn bị lực lượng và điều kiện để tiến hành cuộc trường kì kháng chiến.

Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quân đã chỉ rõ: “Nhất định không sớm thì muộn Pháp cũng đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp11”. Đúng như nhận định của Đảng, cuối năm 1946, thực dân Pháp tiến hành đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn rồi lao sâu vào con đường xâm lược 3 nước Đông Dương, buộc dân tộc ta phải cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ nền độc lập.

Trước tình hình đó, ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng tiến hành Hội nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), quyết định phát động cuộc kháng chiến trên quy mô toàn quốc.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chủ tịch đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Người nói:

“ Hỡi đồng bào toàn quốc“!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới: vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! chúng ta thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Đại Đồng tiến hành xây dựng hậu phương vững mạnh, đóng góp sức người, sức của, góp phần cùng cả nước tiến hành cuộc trường kì kháng chiến, trong giai đoạn cách mạng vô cùng khó khăn.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xảy ra được hai tháng thì ngày 20 tháng 2 năm 1947, một sự kiện trọng đại diễn ra trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của cuộc kháng chiến chống Pháp đã vào thăm Thanh hoá.

Tại Rừng Thông, từ sáng Hồ Chủ tịch đã có cuộc gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ chủ chốt của tỉnh. Ba giờ chiều cùng ngày, Hồ Chủ tịch nói chuyện với các thân hào, nhân sĩ tại một nhà dân xóm Thọ, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Sau đó Hồ Chủ tịch ra thăm thị xã Thanh Hoá, nói chuyện với nhân dân tại phòng Thông tin thị xã.

Trong các lần gặp gỡ đó, Người đã ân cần chỉ bảo vai trò của người cán bộ cách mạng, kêu gọi thân hào, nhân sĩ đỡ chính quyền trừ giặc đói, giặc dốt, góp phần vào công cuộc kháng chiến. Người nói về chủ trương kháng chiến kiến quốc của Chính phủ. Khuyên mọi người đoàn kết đánh giặc, chuẩn bị kháng chiến, tổ chức lực lượng vũ trang địa phương, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và xây dựng Thanh Hoá thành một tỉnh kiểu mẫu. Người chỉ thị “Phải làm sao cho mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một xã kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu. Quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu”.(12)

Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Minh và chính quyền cách mạng ở Nhân Thọ đã tập trung lãnh đạo nhân dân xây dựng hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến, vừa lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế văn hoá, vừa chuẩn bị sức người, sức của phục vụ kháng chiến kiến quốc.

Đầu năm 1947, thực hiện chủ trương chung, xã Đại Đồng sáp nhập với Duy Tân (nay là Thọ Ngọc) và xã Thọ Sơn, thành xã Đoàn Kết. Xã Đoàn Kết có số dân đông và địa bàn rộng khắp 3 xã Thọ Cường, Thọ Ngọc và Thọ Sơn ngày nay. Với địa bàn rộng như vậy, đội ngũ cán bộ chính quyền lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác, việc quản lí địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Việt Minh và chính quyền xã đã đẩy mạnh các phong trào thi đua, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tạo thành sức mạnh tinh thần và vật chất để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng hậu phương vững mạnh, tích cực đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến.

Để thực nhiệm nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc, công việc cấp thiết là phải thành lập được tổ chức Đảng trên địa bàn xã để lãnh đạo. Trong quá trình hoạt động và trưởng thành, đến tháng 3 năm 1947, thực hiện quyết định của Huyện ủy Thọ Xuân tổ Đảng đoàn kết được thành lập gồm 4 đồng chí, do đồng chí Trịnh Văn Quyết làm tổ trưởng, chỉ đạo trực tiếp là đồng chí Thăng và đồng chí Can. Tổ Đảng đoàn kết được thành lập từ 2 tổ Đảng. Đảng viên đầu tiên là đồng chí Trịnh Văn Quyết và Trịnh Văn Canh, hai đồng chí đã sinh hoạt ghép với chi bộ Xuân Sơn, tổ Đảng thứ 2 là tổ Đảng Đoàn kết, đảng viên đầu tiên là đồng chí Lê Xuân Tràng (là Hương Kiểm) và đồng chí Lê Đình Lanh. Sau khi thành lập, Tổ Đảng đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu:

- Lãnh đạo nhân dân xây dựng địa phương, chi viện cao nhất sức người, sức của cho chiến trường, góp phần cùng cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

- Xây dựng và củng cố chính quyền, các đoàn thể quần chúng, tiếp tục đẩy mạnh phong trào diệt giặc đói và giặc dốt.

- Tuyên truyền vận động nhân dân, quyên góp tiền của để ủng hộ kháng chiến.

- Chuẩn bị mọi điều kiện thuận lợi cho tổ chức cũng như cán bộ cao cấp của Đảng nhà nước về hoạt động tại địa bàn của xã.

Dưới sự lãnh đạo của chi bộ mà trực tiếp là tổ Đảng, cán bộ và nhân dân các làng đây mạnh thi đua sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc và quyết tâm xây dựng làng xã kiểu mẫu.

Qua cuộc vận động “ Tăng gia sản xuất”, nhân dân Đoàn Kết đã dấy lên một phong trào thi đua sản xuất sôi nổi, tích cực khai hoang, phục hoá, mở rộng diện tích cày cấy, trồng cây lương thực. Trước đây, có một số ruộng đất bị bỏ hoang do không có nước tưới, Việt Minh và chính quyền phát động nhân dân đào mương, khơi dòng, lấy nước phục vụ sản xuất. Những làng có nhiều ruộng tư, Ủy ban hành chính xã, các tổ chức cứu quốc đứng ra vận động các chủ ruộng nhường bớt cho người nghèo cày cấy, hoặc cho mượn ruộng theo thời vụ không phải nạp tô, hoặc nạp tô thấp(13).

Bằng nhiều biện pháp khuyến khích sản xuất nông nghiệp, diện tích canh tác được mở rộng, năng suất, sản lượng tăng, nạn đói được đẩy lùi, nhân dân có lương thực đóng góp cho cuộc kháng chiến.

Trong những năm đầu kháng chiến, không khí khẩn trương, chuẩn bị chiến đấu bao trùm toàn bộ đời sống ở làng quê Đoàn Kết. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, tháng 5 năm 1947, Ban tiêu thổ kháng chiến của Đoàn Kết được thành lập do đồng chí Chủ tịch Ủy ban kháng chiến làm trưởng ban. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Phá hoại là kháng chiến”, “phá để ngăn chúng lại, không cho chúng tiến lên”, nhân dân xã Đoàn Kết đã hưởng ứng sôi nổi. Quần chúng nhân dân, nhất là lực lượng thanh niên được tập hợp để tiến hành tiêu thổ kháng chiến.Tất cả các tuyến đường trong xã, tuyến đường thị xã đi các huyện miền Tây của tỉnh chạy qua xã đã được nhân dân đắp các ụ lớn, hàng trăm hào cá nhân, phá nhiều đoạn đường để ngăn bước tiến của quân thù.

Trong các thôn xóm, nhân dân tiến hành rào làng kháng chiến. Hàng trăm cây tre đã được ngã xuống để rào quanh làng, có làng dựa vào hệ thống ao quanh làng, đắp thêm bờ cao, rào thành chiến luỹ. Các gia đình còn đào hầm bí mật cất giấu đồ đạc, khi có chiến sự xảy ra. Ủy ban kháng chiến chỉ đạo cho lực lượng dân quân tự vệ tổ chức cho nhân dân tập dượt thực hiện “vườn không nhà trống”, khi quân giặc kéo đến. Tất cả các làng đều có các đội dân quân tự vệ tuần tra, canh gác và quy định mật hiệu ra vào.

Có thể nói, dù còn đầy chông gai, gian khổ, đời sống kinh tế, xã hội còn hết sức khó khăn, nhưng dưới sự lãnh đạo của chi bộ, nhân dân các làng Thọ Thọ Cường đã đoàn kết một lòng, tin tưởng vào đường lối kháng chiến kiến quốc của Đảng, của Hồ Chủ tịch, cùng nhau xây dựng xóm làng, góp phần xây dựng hậu phương của cuộc kháng chiến. Chính vì vậy, an ninh chính trị của địa phương được giữ vững, tăng gia sản xuất, văn hóa xã hội từng bước phát triển, trở thành địa chỉ tin cậy để các đồng chí cán bộ, cơ quan Trung ương về hoạt động.

Do là địa bàn tương đối ổn định về chính trị và an ninh, lại có hình thuận tiện, đặc biệt lòng dân luôn tin trưởng vào Đảng, sẵn sàng đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, cuối năm 1947, Trường Văn hoá - Nghệ thuật Việt Nam được sơ tán về làng Quần Tín. Đây là nơi đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng lực lượng cốt cán phục vụ trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ kháng chiến cũng như về sau này.

Đồng thời với Trường Văn hóa – Nghệ thuật, nhiều cán bộ và gia đình từ Hà Nội tản cư vào. Nhiều học giả, nhà thơ, nhà văn, lí luận phê bình điêu khắc…trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật đã về đây sinh sống. Mặc dù còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, dân làng Quần Tín đã nhường nhà cửa, giường chiếu và nhiều vật dụng trong gia đình dành điều kiện tốt nhất cho cán bộ và gia đình sinh sống tại làng. Dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng và Chính quyền địa phương, Quần Tín trở thành một địa chỉ, một cái nôi nuôi dưỡng, che trở cho các văn nghệ sỹ, các học giả nổi tiếng tản cư trong kháng chiến chống Pháp.

Suốt giai đoạn từ năm 1947 đến năm 1954, ngôi làng Quần Tín đất không rộng, người không đông, nhưng giàu lòng yêu nước và cách mạng, nặng tình quân dân cá nước đã trở thành một “an toàn khu” để các văn nghệ sĩ hoạt động văn hóa. Nhiều tác phẩm văn học, những bài thơ nổi tiếng như “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, “Bài ca vỡ đất” của Hoàng Trung Thông…được sáng tác tại đây.

Những danh tướng tài ba của đất nước như Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Sơn, và cả Hoàng thân Xu – va – nu – vông của nước bạn lào cũng đã từng đóng quân và về đây hoạt động.

Đây là nhiềm tự hào, là sự đóng góp không nhỏ của đất và người Thọ Cường trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mặt khác, chính nhờ có Trường Đại học Văn hóa – Nghệ thuật thời kháng chiến, với nhiều văn nghệ sĩ cùng sống làm việc đã góp phần nâng cao trình độ dân trí của nhân dân địa phương.

Ngoài mặt trận, ta càng đánh, càng mạnh, tổng kết một năm toàn quốc kháng chiến, Hồ Chủ tịch một lần nữa khẳng định: cuộc kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi, dù phải kéo dài, gian khổ. Người biểu dương lực lượng của nhân dân ta “ ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhen, chỉ có tiến, không thoái”, còn thực dân Pháp “ như mặt trời lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ(14)”. Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân thi đua yêu nước, đóng góp sức người, sức của để cuộc kháng chiến mau chóng thắng lợi. 

Để có thêm tài lực cho cuộc kháng chiến, tháng 4 năm 1948 Trung ương Đảng và Chính phủ đã phát hành Công phiếu kháng chiến. Nhận thức rõ ý nghĩa to lớn của cuộc vận động này, các làng của Thọ Cường đã tổ chức học tập sâu rộng rồi tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, các tổ chức cứu quốc đã đến từng gia đình, nhất là các gia đình giàu có, vận động mua công phiếu. Mặc dù đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần yêu nước, nhân dân đã hăng hái tham gia. Nhiều gia đình mua hàng chục phiếu giá trị hàng trăm cân thóc và hàng nghìn đồng để ủng hộ kháng chiến.

Đi đôi với việc vận động tuyên truyền ủng hộ kháng chiến, Chi bộ đã lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể, triệt để thực hiện các chính sách của Đảng đem lại quyền lợi cho người lao động. Ngay từ đầu vụ chiêm năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính huyện đã tổ chức họp điền chủ toàn huyện. Tại cuộc họp này, đại diện chính quyền đã phân tích sự bất hợp lí trong việc phân phối sản phẩm giữa người có ruộng và người làm thuê, kêu gọi các điền chủ thiết thực đóng góp vào công cuộc kháng chiến, yêu cầu các điền chủ giảm 25% tô cho người nhận ruộng. Sau khi nắm được chủ trương của huyện, Chi bộ đã triển khai cho chính quyền và các tổ chức đoàn thể vận động  nhân dân yêu cầu các chủ ruộng thực hiện. Tuy nhiên, một số điền chủ tìm mọi cách để không thực hiện, được sự chỉ đạo của các chi bộ, dưới sự tổ chức của các đoàn thể, nhân dân đã đến  nhà địa chủ, yêu cầu thực hiện giảm tô. Tổ chức Đảng Đoàn Kết đã phát động quần chúng nhân dân, đấu tranh đòi địa chủ Nguyễn Quỳnh Thước giảm tô 25%, tuy lúc này tổ Đảng mới có 7 đồng chí, nhưng bằng nhiều hình thức, tổ Đảng đã tổ chức cuộc biểu tình, với những khẩu hiệu hô lớn của hàng trăm nông dân, tá điền buộc địa chủ Thước phải nhượng bộ hứa giảm tô 15% và sang năm 1949 thực tế nhiều địa chủ đã phải giảm tô 25%.

Về công tác Đảng, thực hiện chỉ thị của Huyện ủy Thọ Xuân, tháng 6 năm 1948, chi bộ xã đã tiến hành cuộc vận động xây dựng “Chi bộ tự động, gương mẫu, tiến bộ”. Chi bộ đã nghiêm túc đánh giá hoạt động của Chi bộ và các phong trào cách mạng trong xã hơn gần một năm qua. Chi bộ đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh bằng các biện pháp cụ thể. Phải đảm bảo sự đoàn kết trong Chi bộ, thống nhất cao trong công tác cách  mạng ở địa phương, chủ động, sáng tạo trong công tác cách mạng. Các đảng viên phải gương mẫu trong học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ cũng như nhận thức về chủ nghĩa Cộng sản. Mặt khác, Chi bộ tiếp tục tìm nguồn, bồi dưỡng, kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng.

Tháng 11 năm 1948, thực hiện Quyết định của Chính phủ, xã Đoàn Kết được đổi tên thành xã Thọ Ngọc.

Do có những chính sách đúng đắn trong chỉ đạo sản xuất, đời sống nhân dân được nâng lên, tin vui từ hậu phương bay ra mặt trận, các chiến sĩ càng hăng hái lập công. Chiến trường thắng lớn, làm nức lòng nhân dân cả nước, ngày 20 tháng 8 năm 1949, Hồ chủ Tịch  kêu gọi: “ Tôi lấy danh nghĩa cá nhân mà nhờ đồng bào giúp đỡ. Tôi muốn nhờ đồng bào mỗi gia đình bán cho tôi 10 kg gạo để khao quân đội nhân ngày Quốc khánh(15)”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, nhân dân các làng Thọ Cường đã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, bán lúa để Cụ Hồ khao quân.

Ngoài mặt trận, ta càng đánh càng thắng, càng có những trận đánh lớn, yêu cầu về lương thực, vũ khí càng nhiều. Hưởng ứng phong trào “ủng hộ quỹ mua súng” và “ủng hộ bộ đội địa phương”, ủng hộ quỹ “Dân quân tự túc”, nhân dân các làng ở Thọ Cường đã thi đua sôi nổi. Ai có nhiều, ủng hộ nhiều, ai có ít, ủng hộ ít. Nhân dân còn sáng tác thơ ca để động viên nhau thực hiện tốt chủ trương của Đảng. Mỗi đồng tiền, cân gạo gửi ra tiền tuyến là góp phần để cuộc kháng chiến mau chóng thắng lợi.

Như vậy, chỉ không lâu sau ngày thành lập, tổ chức Đảng ở Thọ Cường đã nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị, lãnh đạo toàn bộ các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương. Qua thực tế hoạt động, đội ngũ đảng viên ngày càng phát triển, chất lượng ngày càng được củng cố, đảm bảo yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.

Thời gian này, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang trong giai đoạn quyết liệt. Sau chiến thắng Việt Bắc, tương quan lực lượng giữa ta và địch có nhiều thay đổi, Trung ương Đảng nhận định: “Cuộc chiến sẽ xảy ra ác liệt hơn. Chiến tranh sẽ thực sự diễn ra khắp nước(16)”. Thời gian này, điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương đã có những bước phát triển tốt, đời sống nhân dân được cải thiện, nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Việt Minh và chính quyền cách mạng. Tuy nhiên, đời sống xã hội còn nhiều khó khăn, tình hình an ninh vẫn còn diễn biến phức tạp.

Thực hiện nghị quyết của huyện uỷ Thọ Xuân về công tác xây dựng Đảng, từ năm 1949, Chi bộ đã lần lượt cử các đồng chí đảng viên đi bồi dưỡng. Các đồng chí cán bộ từ Chi uỷ đến tổ trưởng học lớp 20 ngày, các đồng chí đảng viên bồi dưỡng lớp 2 tuần. Qua các đợt học tập này, nhận thức, trình độ lí luận của đảng viên được nâng cao.

Công tác xây dựng, phát triển Đảng luôn được chi bộ quan tâm thực hiện. Dù còn phải hoạt động, ở nhiều nơi bọn phản động luôn tìm cách thủ tiêu cán bộ, đảng viên, những quần chúng ưu tú trong các làng ở Thọ Cường vẫn nguyện được đứng trong đội ngũ của Đảng, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì lí tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Đặc biệt từ năm 1949, Đảng ta chủ trương tăng cường kết nạp đảng viên mới để xây dựng Đảng vững mạnh, số đảng viên mới được kết nạp tăng mạnh. Đến cuối năm 1950, tổ Đảng ở các làng thuộc Thọ Cường đã kết nạp thêm được 54 đảng viên mới, cụ thể:

Năm 1945, kết nạp được 1 đồng chí.

Năm 1946, kết nạp được 3 đồng chí.

Năm 1947, kết nạp được 2 đồng chí.

Năm 1948, kết nạp được 7 đồng chí.

Năm 1949, kết nạp được 18 đồng chí.

Năm 1950, kết nạp được 23 đồng chí.

Như vậy quan gần 5 năm thực hiện chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng, phong trào cách mạng ở Thọ Cường có những bước phát triển vững chắc. Chính quyền cách mạng ngày càng vững mạnh, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng ổn định, văn hóa – xã hội phát triển, phong trào bình dân thu được kết quả tốt, phong trào ủng hộ kháng chiến được đông đảo nhân dân hưởng ứng…Đó là kết quả rất đáng tự hào trên quê hương Thọ Cường vốn giàu lòng nhân ái và cách mạng.

III. TIẾP TỤC LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG, ĐÓNG GÓP SỨC NGƯỜI, SỨC CỦA CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN ( 1951 - 1954).

 Trải qua những năm tháng hoạt động đầy gian khổ và hy sinh, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến thuận lợi, tháng 2 năm 1951, Trung ương Đảng quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai. Buổi lễ ra mắt chi bộ được tổ chức thật trang nghiêm, đồng chí Bí thư chi bộ đọc tóm tắt lịch sử ra đời và trưởng thành của Chi bộ và nhiệm vụ trong thời gian tới.

Đảng ra hoạt động công khai là điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo cách mạng trên địa bàn, cũng như công tác phát triển đảng viên. Tuy nhiên, điều kiện này cũng dễ nảy sinh thói cửa quyền, xa dân, làm “ quan của dân” như Hồ Chủ tịch từng nhắc nhở. Từ yêu cầu cách mạng và thực tế của địa phương, Chi bộ đã ra Nghị quyết vạch ra phương hướng lãnh đạo trong thời gian tới, trong đó: tập trung củng cố tổ chức Đảng, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, cùng với nhân dân trong huyện, trong tỉnh, xây dựng và củng cố hậu phương của cuộc kháng chiến.

Tháng 6 năm 1951, theo hướng dẫn của Huyện uỷ, cùng với việc đưa Đảng ra hoạt động công khai, Chi bộ thực hiện chủ trương “đóng cửa Đảng”, tạm thời không kết nạp đảng viên mới, đồng thời tiến hành đợt vận động phê bình và tự phê bình trong Đảng. Qua đó, chi bộ đã nghiêm khắc kiểm điểm những đảng viên ngại học tập, sợ phê bình, thiếu nhiệt tình trong công tác...Trong đợt sinh hoạt chính trị này, chi bộ đã đề nghị kỉ luật những đảng viên vi phạm điều lệ Đảng, bao gồm các hình thức: cách chức, khai trừ, vận động rút tên ra khỏi Đảng. Do được tiến hành nghiêm túc, nên sự đoàn kết trong chi bộ được tăng cường, chất lượng đảng viên được nâng lên.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bước sang giai đoạn mới, ta càng đánh, càng thắng, quân Pháp càng mở rộng chiến tranh càng lún sâu vào thất bại. Hội Nghị Trung ương Đảng họp tại Việt Bắc nhận định:. “qua mấy năm kháng chiến, ta càng đánh càng mạnh. Trong khi Pháp càng đánh càng suy nhược, càng rơi vào tình cảnh lúng túng. Tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi có lợi cho ta”(17). Hội nghị chủ trương “ Động viên mọi tinh thần, vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc, giành kì được độc lập và dân chủ thực sự và đề ra khẩu hiệu: “ Tất cả để chiến thắng”.

Thực hiện chủ trương của Đảng, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài, Chi bộ tiếp tục tập trung giải quyết vấn đề người nghèo có ruộng. Ruộng đất hoang hoá ở Thọ Cường còn khá nhiều, chính quyền đã vận động nhân dân, mà lực lượng nòng cốt là các đoàn thể cứu quốc khơi dòng, đắp mương, tăng diện tích sản xuất.

Dưới sự chỉ đạo của huyện, nhân dân trong xã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, quyết tâm phấn đấu trên các mặt sản xuất, kiết kiệm, xây dựng nếp sống mới, cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến, góp phần xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh kiểu mẫu. Ai nấy đều ghi nhớ lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất hơn nữa”, “Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây”. Các đoàn thể cứu quốc đi đầu trong phong trào, các hình thức tăng gia sản xuất cũng rất đa dạng, phong phú. Trong các gia đình nhân dân trồng rau màu, rong ta, rong riềng, khoai lang, sắn… Hoặc chăm sóc, cải tạo cây ăn quả cho năng suất cao. Ngoài đồng ruộng, nhân dân quyết tâm không để ruộng hoang. Những gò bãi cao lâu nay để hoang vì không lấy được nước, nay được vỡ hoang để trồng khoai lang, trồng đậu, trồng vừng… Những khu đồng trũng cỏ mọc ken dày được Đoàn thanh niên huy động đoàn viên phát cỏ, đào mương tiêu nước để cấy lúa. Các khu ruộng gần đền miếu, chùa chiền cũng được vỡ hoang để chia cho dân sản xuất. Chính quyền và các đoàn thể cứu quốc còn đến các gia đình nhiều ruộng vận động cho người nghèo mượn ruộng hoặc thu tô thấp để nhân dân sản xuất. Một số điền chủ có tư tưởng tiến bộ ở địa phương đã tự nguyện “hiến ruộng” cho dân nghèo. Ngoài sản xuất lúa, màu, chính quyền còn vận động nhân dân chăn nuôi gia súc, gia cầm, duy trì trồng các cây truyền thống để sản xuất thủ công như đan lát, mộc…

Hưởng ứng phong trào thi đua, quán triệt cuộc vận động “Đại sản xuất, tiết kiệm” do Hồ Chủ tịch đề ra, phong trào tăng gia sản xuất diễn ra càng sôi động. Hàng năm các làng đều bình bầu những cá nhân, gia đình điển hình để biểu dương, hoặc bình xét để đề nghị cấp trên công nhận danh hiệu “Chiến sĩ thi đua nông nghiệp” cấp huyện, cấp tỉnh. Để từng bước đưa nông dân vào làm ăn tập thể, tạo điều kiện giúp đỡ nhau trong sản xuất, chi bộ chủ trương tiến hành xây dựng tổ đổi công. Sau thời gian tìm hiểu rút kinh nghiệm, Chi bộ đã tổ chức làm thí điểm lấy gia đình dảng viên, cán bộ trong các đoàn thể cứu quốc tham gia. Trong đó có 2 loại, có tổ đổi công thường xuyên, có tổ chỉ đổi công theo thời vụ. Do thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi nên hoạt động các tổ hiệu quả hơn. Tuy số lượng chưa nhiều nhưng việc tổ đổi công ra đời đã tạo nên nét mới trong sản xuất ở làng quê. Những gia đình khó khăn được giúp đỡ để cấy, gặt kịp thời vụ…

Thời gian này, ngoài lúa, các cây màu như, khoai lang, đỗ, vừng... ở các làng của Thọ Cường tăng mạnh, nhân dân có điều kiện đóng góp cho kháng chiến. Trong cuộc vận động mua “Công Trái quốc gia”, Chi bộ đã vận động các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân tham gia tích cực, kết quả nhân dân đã mua hàng trăm phiếu, trị giá hàng ngàn ki lô gam thóc và nhiều tiền mặt, vượt mức được giao.

Để đóng góp cho cuộc kháng chiến được công bằng, hợp lí, huy động sự đóng góp của các tầng lớn nhân dân cho cuộc kháng chiến theo khả năng của từng hộ, Chính phủ đã ra Sắc lệnh thuế nông nghiệp. Đầu năm 1951, các đồng chí cán bộ huyện Thọ Xuân đã tham dự lớp tập huấn của tỉnh do đồng chí Lý Ban Ủy viên Trung ương Đảng về chỉ đạo. Theo chỉ đạo của huyện, Thọ Ngọc tiến hành thành lập Ban thuế do đồng chí Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính (UBKCHC) xã làm trưởng ban. Các đồng chí Bí thư chi bộ, Chủ tịch UBKCHC xã và đồng chí cán bộ phụ trách thuế được đi tập huấn ở huyện. Tại đây các đồng chí được được giảng viên giải thích chính sách thuế nông nghiệp của Chính phủ, nêu rõ sự khác nhau giữa thuế cũ và thuế mới; được tập huấn cách xây dựng kế hoạch, phân loại hộ, nắm trích lục ruộng đất của từng hộ đối chiếu với hiện tại, tiến hành khảo sát từng khu, từng vùng, từng ruộng; căn cứ thu hoạch thực tế từ trước định ra 10 hạng đất để xác định hạng thuế. Sau đó đưa ra cuộc họp toàn dân để bình thuế công khai. Do được tuyên truyền, giải thích cặn kẽ cho từng đối tượng, nên hầu hết nhân dân đều đồng tình ủng hộ. Nhờ được tiến hành chu đáo, khoa học mà Thọ Ngọc đã hoàn thành việc định thuế đúng tiến độ.

Tuy nhiên, quá trình bình sản thuế ở các làng thuộc Thọ Cường diễn ra gay go, phức tạp. Đây là lúc đụng chạm đến lợi ích kinh tế lâu nay các điền chủ vẫn sở hữu, nên một số điền chủ tìm mọi cách chống đối. Trước tình hình đó, Chi bộ đã quyết định tập trung lực lượng làm điểm ở một số thôn, sau đó nhân rộng ra toàn xã, đồng thời phát động nhân dân tố giác những sai trái của một số điền chủ. Các làng còn thành lập tổ trung kiên hậu thuẫn cho các cuộc đấu tranh. Khí thế của quần chúng lên rất cao, kết quả, công tác thuế ở các làng trong xã đã được triển khai đúng tiến độ.

 Đến mùa nhân dân tự giác chọn thóc khô, thóc sạch để đóng thuế cho Chính phủ. Tuy vậy, cũng còn một số điền chủ tìm mọi cách giấu sản lượng, giấu diện tích, phân tán ruộng đất để trốn thuế, hoặc kêu thuế mới cao không chịu nộp. Chi bộ và chính quyền xã đã quyết định mở cuộc vận động với mục tiêu: đấu tranh chống dây dưa thuế và hạ uy tín cường hào. Để cuộc vận động đạt hiệu quả tốt, Chi bộ  ra nghị quyết các gia đình đảng viên phải hoàn thành thuế trong vòng một tuần, kể từ khi phát động. Nhân dân đã đấu tranh trực diện với những đối tượng này đòi đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, các tổ chức đoàn thể cứu quốc và Ban thuế đã kịp thời, giải thích nên các làng ở Thọ Cường đa số đều đóng thuế đúng hạn.

Trong lúc cán bộ và nhân dân Thọ Cường đang ra sức đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, thì năm 1952, cùng với việc đánh phá vùng hậu phương kháng chiến, thực dân Pháp đã cho máy bay ném bom phá đập Bái Thượng khiến hàng ngàn mẫu ruộng bị khô cằn. Chi bộ xã Thọ Ngọc cùng Việt Minh và các tổ chức đoàn thể đã tuyên truyền giải thích cho nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của kẻ địch muốn phá hoại  hậu phương của cuộc kháng chiến, nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường. Trong gian khó, phẩm chất cách mạng của người Thọ Cường càng thêm vững vàng. Chính quyền vận động nhân dân chuyển hướng sản xuất, thay giống lúa “chăm” bằng giống lúa “ba trăng” chịu được hạn, hay trồng ngô, khoai. Đồng thời vận động nhân dân tăng cường tát nước, khơi thông mương máng, đào giếng chống hạn trên các cánh đồng. Với quyết tâm “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, sản xuất ở Đại đồng vẫn phát triển. Chỉ tiêu thuế nông nghiệp trên giao không chỉ hoàn thành mà còn tăng hơn so với năm trước.

Đóng nhanh, đóng đủ, đóng thóc tốt trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nhân dân các làng ở Thọ Cường thể hiện tinh thần cách mạng và ý thức trách nhiệm của công dân một nước độc lập, là nghĩa vụ cao cả của người ở hậu phương đối với người ở tiền tuyến đang cầm súng chiến đấu với kẻ thù.

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, một sự kiện đau thương đã diễn ra trên đất Thọ Cường, vào hồi 11 giờ ngày 16 tháng 4 năm 1952, Thực dân Pháp cho máy bay oanh tạc vào xóm Ngọc Sơn, chúng ném xuống đây 6 quả bom, làm chết 3 người, 1 người bị thương, nhà cửa hoa màu bị thiệt hại nặng, còn bên quân đội đóng quân tại địa phương thì không rõ, qua vụ này ta nghi có phản gián trong địa bàn.

Trong bối cảnh này dưới sự lãnh đạo của chi bộ trực tiếp là tổ Đảng, đã lãnh đạo nhân dân vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa tổ chức đấu tranh chính trị làm rõ bộ mặt của bọn phản động, tay sai, bán nước, một số đồng chí như: Trịnh Văn Canh, Trịnh Văn Quyết, Bùi Xuân Vạn, Phạm văn Bổng đã tỏ rõ thái độ lãnh đạo kiên quyết đấu tranh nên đã làm thất bại âm mưu phá hoại của tổ chức phản động Đại Việt do địa chủ phản động Lê Hữu Sằn làm thủ lĩnh. Tổ chức này có 25 tên tham gia, địa chủ Lê Đình Xá thì lợi dụng tổ chức Tương tế (cải lương) tập hợp quần chúng âm mưu chống lại chính quyền cách mạng. Trong thời điểm này, bọn phản động Quốc Dân Đảng đã nổi dậy ở Di Linh (Hợp Lý) có tác động đến chúng. Tuy bề ngoài 2 địa chủ  Sằn và Xá có mâu thuẫn, nhưng thực chất là chúng che mắt cách mạng và đang chờ cơ hội, song do sự đấu tranh kiên quyết của cán bộ, đảng viên và nhân dân nên chúng đã thất bại. (xem lại có cần đưa tên người cụ thể không)

Cuối năm 1952, giai cấp bóc lột đã lợi dụng vào sự sơ hở của chính quyền cách mạng, chúng đã tổ chức vận động quần chúng lấy chữ ký chống lại chính quyền cách mạng. Bề ngoài chúng nói là kiện về tài chính, nhưng thực chất bên trong là hoạt động của bọn phản động trong tổ chức “liên tôn, diệt cộng” mà thủ lĩnh của chúng là 2 tên Tuệ Quang và Tuệ Chiến. Trước tình hình trên tổ Đảng và chính quyền địa phương đã kiên trì giải thích và thuyết phục quần chúng tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng, không nghe theo bọn tay sai bán nước đồng thời quyết trừng trị bọn cầm đầu, không cho bọ chúng thực hiện âm mưu phản động trên địa bàn xã.

Năm 1951, Liên khu IV phát động cuộc đấu tranh chính trị, năm 1952, Thường vụ Tỉnh ủy đã có Chỉ thị, nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cuộc vận động đấu tranh chính trị. Thực hiện chỉ thị trên, chi bộ chỉ đạo chính quyền tiến hành cuộc đấu tranh chính trị ở địa phương nhằm:

- Phát động nhân dân đấu tranh chính trị, trừng trị bọn phản động, tay sai.

- Vạch rõ âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đoàn kết ở nông thôn.

- Đề cao cảnh giác cách mạng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, vạch rõ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc cho mọi người rõ.

Trên địa bàn các làng thuộc xã Thọ Cường ngày nay, tổ Đảng đã phát động cuộc đấu tranh chính trị, hạ uy thế cường hào, kết hợp với việc giải quyết thuế nông nghiệp. Cuộc đấu tranh chính trị đã giúp nhân dân đề cao cảnh giác trước những âm mưu, chia rẽ đoàn kết, xuyên tạc chủ trương đường lối của Đảng, Chính phủ của bọn phản động. Cũng trong dịp này, những người có tư tưởng bất mãn, hay nói xấu chế độ, những điền chủ dây dưa trốn thuế, cho vay nặng lãi, những người có liên quan đến tổ chức “Liên tôn diệt cộng” trước kia phải làm bản kiểm điểm, đưa ra kiểm điểm trước dân … Trong xã có những địa chủ như Nguyễn Đăng An (con địa chủ Thước) và Lê Đình Xá, Lê Như Tùng, cùng Lê Đình Tinh, đều là lý trưởng đã ra mặt chống chính sách thuế nông nghiệp, Nguyễn Thị Chuyện (địa chủ) đã đổ nước và cát sỏi vào thóc đem nhập kho. Được sự lãnh chỉ đạo chặt chẽ và kiên quyết của Đảng và chính quyền,  quần chúng nhân dân đấu tranh bắt số người này phải chấp hành. Địa chủ An, Nguyễn Thị Chuyện phải phạt tù, số còn lại bị tịch thu và phát mãi tài sản. (xem lại có cần đưa tên người cụ thể không)

Cuộc đấu tranh chính trị đã giúp nhân dân thấy rõ nghĩa vụ, nhiệm vụ của mình đối với công cuộc kháng chiến kiến quốc, giúp cho các cơ quan chức năng phát hiện và xử lí bọn phản động, tạo điều kiện cho những người nhẹ dạ, cả tin bị mua chuộc, dụ dỗ theo chúng. Tuy nhiên, ở một số nơi đấu tranh chính trị mắc phải một số sai lầm, như dùng nhục hình, nặng đấu tố, thiếu giáo dục, quy oan một số đảng viên là Việt gian. Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị ngừng cuộc đấu tranh tự phát ở liên khu IV.

Để động viên, sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, đầu năm 1953, Chính Phủ đã có Sắc lệnh Cải cách ruộng đất và giảm tô, giảm tức triệt để. Thực ra, ngay từ năm 1946, Chính phủ đã có Sắc lệnh giảm tô 5%, đến năm 1949, lại có Sắc lệnh giảm tô 25%, tuy nhiên, khi thực hiện chỉ mang tính vận động, nhiều điền chủ chỉ giảm tô chưa đến mức quy định. Thực hiện chỉ đạo của huyện, các làng ở Thọ Cường tiến hành giảm tô, giảm tức triệt để một cách quyết liệt hơn, yêu cầu các điền chủ phải giảm tô, giảm tức theo quy định, đưa lại một phần ruộng đất cho nông dân, tuyên bố xóa nợ cho những người nghèo vay của nhà giàu trước đây, trả lại ruộng bị cầm cố cho người nghèo. Đồng thời đưa địa chủ phản động ra ánh sáng dưới sự tố giác của quần chúng, bọn chúng đã phải cúi đầu thừa nhận là lợi dụng về kiện tài chính để tổ chức Đảng “liên tôn diệt cộng”. Địa chủ Sằn và địa chủ Xá bị tù 4 năm (cả 2 đều chết trong tù), bắt tập trung cải tạo 9 địa chủ, trong đó có địa chủ Bàng đã tự sát. Uy thế của cường hào, địa chủ giảm xuống, góp phần làm cho khí thế cách mạng trên toàn huyện thêm sôi nổi. Tuy nhiên trong đấu tranh không tránh khỏi có địa chủ bị đấu tố quá mức, Đảng ta cũng đã nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm.

Cùng với việc thực hiện chính sách thuế, nhân dân còn tổ chức đấu tranh với những địa chủ bỏ ruộng hoang, và những nhà nhiều ruộng, đòi giao lại ruộng và trâu bò cho nhân dân sản xuất. Nhiều lão nông tri điền đã hăng hái trong phong trào sản xuất giỏi, năng suất cao, đóng góp được nhiều thóc cho Chính phủ, được công nhận là chiến sĩ thi đua cấp huyện, cấp tỉnh

Cũng trong thời điểm này, trên các chiến trường diễn ra giao tranh quyết liệt, gây tổn thất và thương vong cho cả địch và ta, để thể hiện ý thức giác ngộ, trách nhiệm với kháng chiến, phong trào đón thương binh về làng năm 1952 và 1953 đã được nhân dân trong xã hưởng ứng mạnh mẽ, điển hình như: gia đình Chị Nam đỡ đầu cho anh Quảng; gia đình ông Nhì đỡ đầu cho anh Tính; gia đình ông Bường đỡ đầu cho anh Hinh…

Đến tháng 9 năm 1953, Thọ Xuân chia 22 xã lớn thành 54 xã, xã Thọ Ngọc chia thành các xã: Thọ Cường, Thọ Ngọc, Thọ Sơn.

Thời gian này, tổ Đảng Thọ Cường vẫn còn sinh hoạt ghép chi bộ ba xã Thọ Cường, Thọ Ngọc, Thọ Sơn, tuy nhiên vai trò của tổ Đảng được nâng lên để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới.

Về văn hoá, giáo dục, tổ Đảng Thọ Cưởng tiếp tục lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và toàn thể nhân dân, thực hiện chủ trương của tỉnh “ Phát triển giáo dục theo đường lối nhân dân(18)”, các lớp bình dân học vụ vẫn được duy trì và phát triển mạnh, phong trào “ đi học” đã lôi cuốn hầu hết nhân dân trong xã đến lớp. Đêm đến, khắp thôn xóm vang lên những tiếng học bài, với một niềm vui, niềm tin sẽ có ngày mai tươi sáng.

Cùng với phong trào bình dân học vụ, hình thức học chính quy cũng bắt đầu được hình thành trên đất Thọ Cường. Từ các năm 1951 đến 1952 tuy nhà trường chưa được thành lập, nhưng trong xã vẫn có lớp học dân nuôi được dạy theo chương trình thống nhất của Bộ Giáo dục, đến năm 1953, trường cấp I Thọ Cường ra đời. Đây là lớp con em đầu tiên được học tập trong nền giáo dục mới, sau này trở thành người công dân tốt, những cán bộ “ vừa hồng, vừa chuyên” của chế độ XHCN

Đi đôi với việc phát triển giáo dục, việc xây dựng đời sống mới cũng được chi bộ, chính quyền chú trọng. Chi bộ chỉ đạo các tổ chức đoàn thể tăng cường vận động nhân dân thực hiện xây dựng nếp sống mới. Trước hết là thực hiện vệ sinh thôn xóm như mở rộng đường làng, ngõ xóm, phát quang bụi rậm, đào cống rãnh để hạn chế rắn rết, ruồi muỗi. Thực hiện ăn chín, uống sôi, vận động nhân dân đào giếng, làm nhà tiêu. Mỗi làng còn có một vệ sinh viên có nhiệm vụ tuyên truyền, giải thích, đôn đốc, nhắc nhở nhân dân ăn ở hợp vệ sinh. Những người có nghề thuốc nam được vận động chữa bệnh cho dân và hướng dẫn nhân dân tự trồng thuốc nam chữa bệnh… Phong trào bình dân học vụ tiếp tục đạt được kết quả cao.

Sau Cách mạng Tháng Tám tệ nạn mê tín, dị đoan còn khá phổ biến ở các làng Thọ Cường. nhất là trong điều kiện kinh tế, xã hội còn hết sức lạc hậu, khó khăn như giai đoạn này. Dù so với nhiều xã trong huyện việc xây dựng nếp sống mới ở các làng Thọ Cường có thuận lợi hơn do chịu ảnh hưởng của Trường Văn hóa – Nghệ thuật đóng trên địa bàn và nhiều văn nghệ sĩ sinh sống, hoạt động công tác tại Quần Tín, nhưng nhìn chung đời sống văn hoá, xã hội vẫn còn hết sức lạc hậu. Vì vậy việc xây dựng nếp sống văn hóa mới đề phù hợp với công cuộc kháng chiến kiến quốc là rất cấp thiết. Những đền, miếu, đình… chuyển thành nơi học tập của Trường Nghệ Thuật – Văn hóa và nơi hội họp, học tập phục vụ lợi ích chung. Các hủ tục lạc hậu như cưới xin, ma chay, việc làng, việc họ tốn kém bị bãi bỏ(19). Các tập tục truyền thống được giữ gìn nhưng thực hiện theo hướng văn minh, tiết kiệm. Các thầy phù thuỷ tự động bỏ nghề, phá điện thờ, những người cố tình không thực hiện bị chính quyền mời lên xã nhắc nhở, phê bình trong các cuộc họp dân.

Chính quyền cách mạng khuyến khích và tạo điều kiện cho các loại hình văn nghệ dân gian phát triển. Nhiều làng có gánh hát từ trước Cách mạng Tháng Tám được vận động duy trì để phục vụ nhân dân. Ngoài các tích trò cổ, có đội văn nghệ còn sáng tác hoạt cảnh mới động viên nhân dân thực hiện công cuộc kháng chiến kiến quốc. Các đội văn nghệ thường tổ chức nhân các ngày lễ, hay kết thúc chiến dịch, ăn mừng chiến thắng. Mỗi khi đội văn nghệ biểu diễn, các gia đình khá giả thường giành nhau nấu cơm phục vụ đội. Giai đoạn này, phong trào văn nghệ phát triển mạnh, tạo nên không khí vui tươi, phấn khởi ở làng quê, động viên mọi người hăng hái thi đua sản xuất và lên đường phục vụ kháng chiến.

Chế độ mới là cơ sở để xây dựng nếp sống mới tốt đẹp, chi bộ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể đã tích cực vận động nhân dân bài trừ đồi phong, hủ tục và các tệ nạn xã hội. Trước thực tế cuộc sống mới diễn ra hàng ngày, những kẻ côn đồ, những nhóm trộm cắp dần dần phục thiện quay lại con đường làm ăn chân chính, hoặc bị chính quyền xử lí, đem lại cuộc sống yên lành cho nhân dân. Phong trào vệ sinh, phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ, với khẩu hiệu “Ăn sạch, uống sạch, ở sạch”, “ Ăn chín, uống sôi”  đã được chi bộ và chính quyền quan tâm chỉ đạo và mang lại kết quả tốt.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong suốt thời gian trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tổ Đảng đã thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả cao trong vai trò lãnh đạo tiên phong, thực sự là lực lượng nòng cốt, đại diện lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh cách mạng, giữ vững trận địa, phát triển lực lượng, chăm lo đời sống nhân dân, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá cách mạng của bọn phản động tay sai bán nước, đảm bảo bí mật, an toàn cho các cơ quan, các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội đóng trên địa bàn. Đào tạo bồi dưỡng, phát triển Đảng viên, tăng cường sức chiến đấu cho Đảng, tuyên truyền vận động quần chúng đi theo Đảng, theo cách mạng, làm cho Đảng và nhân dân ngày càng đồng tâm hiệp lực, thực sự gắn bó máu thịt tạo thành động lực to lớn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, thể hiện là giành thắng lợi trong các phong trào cách mạng.

Vừa xây dựng hậu phương kháng chiến, nhân dân các làng thuộc Thọ Cường còn tích cực tham gia các đợt dân công tiếp vận cho chiến trường. Từ năm 1951 đến khi kết thúc chiến tranh, nhân dân Thọ Cường đã tham gia các đợt dân công như: dân công phục vụ chiến dịch Tây nam Ninh Bình; tham gia chiến dịch Thượng Lào; dân công đi sửa đường lên Tây Bắc; dân công chiến dịch Tây Bắc; dân công chiến dịch Điên Biên Phủ với số lượt người lên đến hàng trăm lượt người. Nhiều người tham gia đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Chỉ tính riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã có hàng chục người xung phong đi lần thứ hai.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, với tinh thần: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, thanh niên Thọ Cường đã xung phong trào tòng quân giết giặc. Lần đầu tuyển quân năm 1949, Thọ Cường có 50 thanh niên xung phong lên đường nhập ngũ.

Trong suốt cuộc trường kì kháng chiến, lớp lớp thanh niên Thọ Cường nối tiếp nhau ra mặt trận tiếp vận, hoặc cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Dấu chân của họ đã in khắp các chiến trường Hoà Bình, Đông - Bắc, Tây - Bắc... góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng trong chiến dịch biên giới, chiến dịch Đông Xuân, chiến dịch Điện Biên Phủ, với 149 người nhập ngũ, 26 thanh niên xung phong; gần 30 thanh niên vào dân công xe thồ vận tải lương thực, đạn dược cho chiến trường và gần 150 thanh niên tham gia dân công hoả tuyến, tham gia chiến dịch Thượng Lào...

Trong cuộc chiến vĩ đại ấy, đã có 4 người mang thương tật suốt đời, 14 người con yêu dấu của Thọ Cường hiến trọn tuổi xuân của mình cho non sông đất nước.

Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ quyết chiến, quyết thắng của quân ta phất phới bay trên nóc hầm của bộ chỉ huy quân viễn chinh pháp. Tại Giơ- ne-vơ, Chính phủ Pháp đã phải kí hiệp định công nhận nền hoà bình ở Đông Dương.

Hoà chung với niềm vui chiến thắng, nhân dân Thọ Cường tự hào đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc. Tổng kết 9 năm kháng chiến, nhân dân Thọ Cường đã được Đảng và chính phủ tặng nhiều huân, huy chương, bằng khen, giấy khen và các hình thức ghi công khác của Chính phủ và các cấp tỉnh, huyện.

Góp phần tích cực vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chi bộ đã lãnh đạo nhân dân trong xã không ngừng phấn đấu phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng lực lượng tự vệ, xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân vững mạnh, nhằm xây dựng hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Đó là những năm tháng gian khổ mà rất đỗi hào hùng, phong trào cách mạng trên quê hương Thọ Cường trưởng thành mọi mặt, làng quê đổi khác từng ngày, cuộc sống mới đã nở hoa kết trái, đẩy lùi nghèo nàn lạc hậu. Tổ chức Đảng và nhân dân Thọ Cường có quyền tự hào về những đóng góp xứng đáng vào sự phát triển, vào thắng lợi vĩ đại cña d©n téc.

§ã lµ hµnh trang cùc k× quý b¸u ®Ó nh©n d©n Th Cường b­íc vµo giai ®o¹n c¸ch m¹ng míi, tiÕn hµnh x©y dùng chñ nghÜa x· héi vµ cïng nh©n d©n c¶ n­íc ®¸nh th¾ng giÆc mü x©m l­îc.

 

 

                                                          Chương III

CHI BỘ, ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG CHỦ      

NGHĨA XÃ HỘI, GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH THẮNG

                       GIẶC MỸ XÂM LƯỢC ( 1954 - 1975)

 

Thắng lợi của chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp đã đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, căn bản hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và bước đầu chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Nam còn nằm trong ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, còn phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Cách mạng ở mỗi miền nước ta có nhiệm vụ chiến lược riêng thích hợp với điều kiện của từng miền, nhưng lại có mối quan hệ khăng khít với nhau.

Tháng 9 năm 1954, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới: “Trong một thời gian nhất định, nhiệm vụ chung của Đảng ta là: đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoại hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố Miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân Miền Nam, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc”. (20)

Tình hình thế giới sau năm 1954 đã có những tác động to lớn đối với tiến trình cách mạng ở Việt Nam, ba dòng thác cách mạng trên thế giới đang ở thế tiến công, Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. Trong bối cảnh lịch sử ấy, đế quốc Mỹ quyết định mở rộng chiến lược bao vây và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tràn từ châu Âu sang châu Á. Mỹ cho rằng, thắng lợi của cách mạng Đông Dương sẽ có tác động dây chuyền đến thắng lợi cách mạng của các nước Đông Nam Á. Ngoại trưởng Mỹ Đa - lét đã tuyên bố: “Điều quan trọng nhất, không phải khóc than cho quá khứ mà phải nắm lấy cơ hội tương lai nhằm ngăn chặn không để mất Miền Bắc Việt Nam, để cuối cùng, chủ nghĩa Cộng sản có ưu thế trên toàn cõi Đông Nam Á và Tây Thái bình dương”(21)

Dân tộc Việt Nam đứng trựớc thách thức nghiêm trọng. Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng sự nghiệp thống nhất nước nhà vẫn chưa thực hiện được. Nhân dân Việt Nam vừa phải tiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến dần lên xã hội chủ nghĩa, vừa phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước.

Cùng với cả nước, nhân dân Thọ Cường bước vào giai đoạn cách mạng mới trong điều kiện có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức.

                                   I.        TIẾN HÀNH KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1954 – 1960).

2.      Chi bộ lãnh đạo nhân dân khắc phục nạn đói, tiến hành cải cách ruộng đất.

Hoà bình lập lại, nhân dân Thọ Cường sống trong không khí tưng bừng, náo nhiệt của niềm vui chiến thắng. Mọi người hăng hái tham gia các hoạt động xã hội, tham dự các cuộc mít tinh, rước đuốc, hội trại… chào mừng chiến thắng. Để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đề ra kế hoạch “ Khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá” trong 3 năm 1954 - 1957.

Thực hiện chủ trương của Đảng, để đảm bảo sự lãnh đạo nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, này 15 tháng 6 năm 1954, huyện ủy Thọ Xuân đã ra Quyết Định thành lập chi bộ xã Thọ Cường, gồm có 47 Đảng Viên. Chi bộ đã tiến hành Đại hội và bầu đồng chí Trần Lương Giáp làm bí thư, đồng chí Hà Kim Bảng làm phó bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính.(22) Đây là bước ngoặt lịch sử của tổ chức Đảng ở địa phương. Đánh dấu bước chuyển về chất của phong trào cách mạng trên địa bàn xã. Từ nay Thọ Cường đã có chi bộ trực tiếp tiếp thu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng vào thực tế của địa phương để ra các nghị quyết sát đúng với tình hình thực tế để lãnh đạo phong trào cách mạng.

Xuất phát từ tình hình thực tế, Đại hội đã thống nhất chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn này là:

- Tổ chức động viên toàn dân thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa.

- Phát động toàn dân thi đua khai hoang, phục hoá, lao động, sản xuất đạt năng xuất cao, cải thiện đời sống nhân dân.

- Nêu cao tinh thần cảnh giác đấu tranh trong giảm tô, cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng.

- Vận động và tổ chức nhân dân thực hiện xây dựng tổ đổi công.

- Tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, kiện toàn bộ máy chính quyền, thành lập các tổ chức đoàn thể nhân dân, góp phần xây dựng Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa.

Sự ra đời của chi bộ có ý nghĩa rất quan trọng là yếu tố quyết định kết quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, tạo ra phong trào cách mạng mạnh mẽ, huy động sức người, sức của thực hiện công cuộc cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa trong giai đoạn cách mạng mới.

 Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới, chi bộ tập trung lãnh đạo viện kiện toàn bộ máy chính quyền. Làm sao cho chính quyền thực sự là của dân, do dân và vì dân, biết lo cho lợi ích của nhân dân. Từ chính quyền lâm thời được chỉ định khi thành lập xã, đến năm 1954, Ủy ban hành chính xã do dân bầu ra chính thức đi vào hoạt đồng gồm các chức danh sau:

Chủ tịch UBHC xã là ông Hà Văn Bảng

Xã đội trưởng là ông Lê Đình Thạo

Các tổ chức đoàn thể cũng nhanh chóng được kiện toàn, gồm các chức danh:

Chủ nhiệm Việt Minh là ông Ngô Xuân Khính(23).

Bí thư Đoàn Thanh niên là Lê Đợt

Chủ tịch Hội Phụ nữ là Lại Thị Dũng

Chủ tịch Hội Nông dân là đồng chí Lê Đình Ngân

Trong lúc cán bộ và nhân dân Thọ Cường đang ra sức thi đua hoàn thành kế hoạch 3 năm phôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, với nhiều phong trào cụ thể trên mặt trận kinh kế, văn hóa để khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, thì tháng 9 năm 1954 đê Liên Phô, huyện Thọ xuân và nhiều đoạn đê sông Chu bị vỡ, một trận lụt kinh hoàng, chưa từng có xảy ra ở Thanh Hóa. Do hệ thống thủy lợi sông Chu bị bom Pháp phá hoại chưa sửa chữa vững chắc tình hình lũ lụt càng thêm nghiêm trọng, vụ sản xuất ở Thọ Cường cũng như các xã ở Thọ Xuân gặp nhiều khó khăn, nạn đói xảy ra khắp các làng. Trước tình hình ấy, Chi bộ đã tập trung chỉ đạo chính quyền, đoàn thể tập trung cứu đói cho dân. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, các đoàn thể quần chúng đã vận động nhân dân nhường cơm xẻ áo, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, những gia đình còn ăn giúp đỡ những gia đình đứt bữa. Để giúp đỡ nhân dân trong cơn bỉ cực, tỉnh đã hỗ trợ Thọ Cường1.572 ki lô gam gạo để kịp thời cứu đói cho dân.

Song song với các biện pháp trên, chi bộ và chính quyền Thọ Cường đã phát động phong trào sản xuất tự cứu đói. Những cây rau màu ngắn ngày, nhất là rau muống được trồng khắp nơi, các gò đất cao được trồng khoai lang, bầu bí, rau đậu... Chi bộ còn phát động nhân dân trồng khoai lang ụ, trên sân, bên chái nhà, ven ngõ...nhân dân gánh đất đắp thành từng ụ để trồng khoai, trước cung cấp rau, sau cho củ, kết quả, đã có hàng trăm ụ khoai chống đói  được trồng. Vào vụ cấy, Thọ Cường thiếu giống nặng, tỉnh phải cho vay thóc giống để sản xuất. Nước rút đến đâu, sản xuất đến đó, với khẩu hiệu “ Trời làm mất, bắt đất phải đền”, nhân dân vào vụ với một quyết tâm cao để giành một vụ chiêm thắng lớn.

Nhờ có nhiều biện pháp đồng bộ, phát huy được tinh thần tương thân, tương ái trong nhân dân, sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn và sự giúp đỡ của các cấp, nhân dân Thọ Cường từng bước vượt qua vụ đói lớn. Cả xã không có người bị chết đói. Qua vụ đói, nhân dân càng tin tưởng vào Đảng, vào chế độ mới, vượt qua khó khăn, đẩy mạnh sản xuất.

Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng khẩu hiệu, đồng thời cũng là ước mơ cháy bỏng ngàn đời của người nông dân: “Người cày có ruộng” vẫn chưa được thực hiện. Để chấm dứt chế độ người bóc lột người ở nông thôn, đưa cách mạng nước ta phát triển cao hơn, ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kì họp thứ 3, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã chính thức thông qua Luật Cải cách ruộng đất.

Trước đó, Chi bộ đã tập trung chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể vận động nhân dân đấu tranh triệt để giảm tô. Những địa chủ trước đây còn dây dưa, giảm tô chưa đạt 25%, được cán bộ chính quyền, đoàn thể, đến nhà  vận động, phân tích, kết hợp sự đấu tranh của quần chúng đòi chuộc lại ruộng đất cầm cố theo chủ trương của Chính phủ, nên Thọ Cường bắt tay thực hiện cải cách ruộng đất có nhiều thuận lợi.

Trước khi tiến hành cải cách ruộng đất, tổ chức Đảng, chính quyền ở Thọ Cường có sự thay đổi, các đồng chí thuộc thành phần từ trung nông cấp trên trở lên hoặc dính líu đến thành phần bóc lột đều bị đình chỉ công tác. Thời kì này, Bí thư chi bộ là đồng chí Phạm Văn Tích, Chủ tịch UBHC xã là ông Lê Văn Kính.

Theo chỉ đạo chung, toàn tỉnh tiến hành cải cách ruộng đất theo hai đợt. Thọ Cường tiến hành vào đợt thứ 2, bắt đầu từ tháng 6 năm 1955.

Mục tiêu trong đợt cải cách ruộng đất được chi bộ xác định rõ là: Bước đầu thoả mãn yêu cầu chính đáng của người nông dân, người cày có ruộng; củng cố Đảng chính quyền, các tổ chức đoàn thể; đập tan uy thế chính trị của giai cấp địa chủ, phong kiến, giành ưu thế chính trị cho nông dân.

Về biện pháp tiến hành, thực hiện theo 4 bước: Bước một: tuyên truyền chính sách, bắt rễ xâu chuỗi để tìm chỗ dựa (chủ yếu là thành phần bần, cố nông); Bước hai: phân định thành phần giai cấp, phân rõ ranh giới giữa nông dân và địa chủ, tổ chức đấu tố một số địa chủ cường hào, gian ác, đầu sỏ; Bước ba: tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất, tài sản chia cho nông dân; Bước cuối cùng là tổng kết thắng lợi và chỉnh đốn tổ chức ở xã, thôn.

Đội cải cách đã về các làng “bắt rễ xâu chuỗi” tổ chức các cuộc hội, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ về cải cách ruộng đất. Các đồng chí trong đội cải cách đã phân tích cho nhân dân thấy rõ sự bất công, vô lí của chế độ chiếm hữu ruộng đất do chế độ thực dân, phong kiến để lại, được giác ngộ, khí thế của quần chúng rất cao.

Do có sự chuẩn bị chu đáo, được sự chỉ đạo trực tiếp của đội cải cách huyện, Thọ Cường đã tiến hành phân hạng giai cấp trong từng làng thành công. Qua việc ôn nghèo kể khổ, người nông dân càng thấy rõ bản chất bóc lột của địa chủ, cường hào gian ác. Dưới sự chỉ đạo của đội cải cách, nông dân đấu tranh quyết liệt với địa chủ bắt phải trả lại ruộng đất, công cụ sản xuất, tài sản cho nhân dân. 

Cuộc cải cách ruộng đất thắng lợi đã xoá bỏ hoàn toàn hình thức chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, đưa người nông dân từ thân phận làm thuê, đứa ở trở thành chủ nhân đích thực của xã hội. Ước mơ ngàn đời, người cày có ruộng đã trở thành hiện thực trên đất Thọ Cường.

Tiến hành cải cách ruộng đất là bước đi tất yếu nhằm xây dựng, củng cố và hoàn thiện chế độ mới tốt đẹp. Thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất là to lớn và cơ bản, tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi có tính chiến lược đó chúng ta đã vấp phải một số sai lầm trong công tác tổ chức thực hiện như sau: “Vi phạm đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn (xâm phạm lợi ích của trung nông, không liên hiệp phú nông, không phân biệt đối xử với các loại địa chủ, không chiếu cố địa chủ kháng chiến); cường điệu việc trấn áp phản động; không dựa vào tổ chức cũ, mắc chủ nghĩa thành phần và khuynh hướng trừng phạt, nặng đấu tố, nhẹ giáo dục, không kết hợp biện pháp hành chính với phát động quần chúng(24)” “ Việc xóa bỏ đảng tịch hàng trăm đảng viên, cách chức cán bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể quần chúng đã gây nhiều tổn thất cho Đảng”(25).

Đảng ta đã kịp thời phát hiện ra những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) tháng 9 năm 1956, đã chỉ rõ những nguyên nhân dẫn đến sai lầm, đề ra nhiệm vụ kiên quyết sửa chữa sai lầm và chỉnh đốn lại tổ chức.

Sau khi học tập Nghị quyết 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và thư của Hồ Chủ Tịch kêu gọi đảng viên và giai cấp nông dân cùng nhau sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất, ban sửa sai được thành lập. Được sự chỉ đạo trực tiếp của đoàn sửa sai huyện, Thọ Cường tiến hành củng cố lại công tác tổ chức, rà soát lại việc phân định thành phần trước để  điều chỉnh lại cho chính xác. Với phương châm, bảo đảm lợi ích chính đáng của người dân, củng cố khối đoàn kết toàn dân, công tác sửa sai đã được tiến hành thận trọng, đúng chủ trương của Đảng. Những gia đình bị quy thành phần oan được hạ thành phần, trả lại tài sản bị thu trong cải cách ruộng đất. Những đồng chí đảng viên bị khai trừ do quy sai thành phần được Huyện ủy ra quyết định công nhận trở lại, tất cả mang lại không khí phấn khởi, thân ái ở làng quê(26).

Tháng 12  năm 1956, Đại hội chi bộ Thọ Cường lần thứ II được tổ chức, Đại hội đã đánh giá công tác lãnh đạo của Chi bộ trong nhiệm kì vừa qua, đặc biệt là trong cải cách ruộng đất. Đại hội thống nhất nhận định: Mặc dù có những sai lầm trong tổ chức thực hiện, nhưng thắng lợi trong cải cách ruộng đất là cơ bản.

Đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Chi bộ gồm 7 đồng chí, đồng chí Trịnh văn Quyết được bầu làm Bí thư Chi bộ(27).

Bộ máy chính quyền, tổ chức đoàn thể cũng được kiện toàn lại. Chủ tịch UBHC xã là ông Phạm Văn Bổng

Cải cách ruộng đất hoàn thành, làng quê Thọ Cường đã có sự thay đổi căn bản, ruộng đất, tư liệu sản xuất đã về tay nông dân, ước mơ ngàn đời “người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực. Người nông dân gắn bó với mảnh ruộng của mình. Diện tích đất hoang được phục hoá, sản lượng lương thực tăng lên, chỉ tiêu khôi phục kinh tế sau kháng chiến hoàn thành, đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội đều có bước phát triển.

2. Chi bộ lãnh đạo nhân dân xây dựng ba ngọn cờ hồng, đẩy mạnh phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá (1958 - 1960).

Sau cải cách ruộng đất, ruộng đất về tay nhân dân, sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường đã có bước phát triển mới. Tuy nhiên, hình thức sản xuất nhỏ lẻ, tư hữu về tư liệu sản xuất, khiến năng suất cây trồng không tăng nhanh được. Việc cải tạo đồng ruộng, công tác thuỷ lợi, ứng dụng khoa học kĩ thuật...gặp khó khăn. Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, Thọ Cường đã tập trung thực hiện “Kế hoạch ba năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá của Nhà nước (1958 – 1960)”. Trước mắt là cải tạo xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp.

Để lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương đi đến thắng lợi, trước mắt là thực hiện thành công kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa, công việc quan trọng là phải xây dựng được tổ chức Đảng vững mạnh. Nâng cao hơn nữa tính tiên phong, đầu tàu gương mẫu của mỗi đảng viên, tăng cường công tác phê và tự phê bình, đồng thời chi bộ ra nghị quyết yêu cầu đảng viên có trình độ thấp phải theo học các lớp bổ túc văn hóa ở trường chức nghiệp, từng bước nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đề ra. Trong hai năm 1958 và 1959, Chi bộ xã Thọ Cường tiến hành Đại hội lần thứ III và lần thứ IV. Đồng chí Trịnh văn Quyết được bầu làm Bí thư Chi bộ, lần lượt đồng chí Phạm Văn Bổng và đồng chí Nghiêm Văn Xuân làm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã được bầu làm Phó Bí thư Chi bộ.

Các nghị quyết của Đại hội đều đề ra chủ trương và biện pháp thực hiện việc đưa nông dân vào làm ăn tập thể. Từ những năm trước đây, ở Thọ Cường đã xây dựng hình thức làm tập thể thông qua tổ đổi công, gần đây, các tổ đổi công làm ăn có hiệu quả, năng suất lao động được nâng lên, nhân dân giúp đỡ nhau trong sản suất, tình làng nghĩa xóm thêm gắn bó...người dân thấy thấy rõ lợi ích của việc làm ăn tập thể. Đây là cơ sở ban đầu thuận lợi, “là mầm mống của xã hội chủ nghĩa”(28) để Thọ Cường tiến hành xây dựng các hợp tác xã trong nông nghiệp. Nghị quyết Đại hội đã tập trung bàn sâu vào công tác xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng, gọi là phong trào “ba ngọn cờ hồng”. Trước hết là động viên nông dân tham gia HTX nông nghiệp, phấn đấu 100% số thôn đều xây dựng được HTX.

Để tiến hành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, chi bộ chỉ đạo chính quyền thực hiện theo 3 nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và quản lí dân chủ. Trên cơ sở đó, các làng họp dân để phổ biến chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc thành lập HTX nông nghiệp, phân tích rõ lợi ích của con đường làm ăn tập thể để tự giác tham gia.

Trên cơ sở hướng dẫn của huyện, chi bộ đã họp bàn, chọn những tổ đổi công làm ăn có hiệu quả, công tác quản lí tốt để tiến hành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Với phương châm “đảng viên đi trước, làng nước đi sau”, chi bộ đã ra nghị quyết yêu cầu các đồng chí đảng viên gương mẫu đi đầu trong phong trào. Tháng 6 năm 1958, Thọ Cường đã xây dựng được hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp đầu tiên ở làng Yên Sinh. Hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của xã ra đời đã tổ chức xã viên sản xuất, phân công lao động hợp lí, bước đầu ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, lại được chi bộ, chính quyền quan tâm chỉ đạo nên liên tiếp được mùa, có tác dụng cỗ vũ nhân dân trong toàn xã noi theo.

Hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp là hình thức người nông dân góp ruộng đất vào làm ăn tập thể, trâu bò, công cụ sản xuất vẫn thuộc sở hữu riêng, phân phối sản phẩm vừa theo lao động, vừa theo hoa lợi.

Từ thành công bước đầu, chi bộ lãnh đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể tích cực vận động nhân dân, trước hết là vận động gia đình cán bộ, đảng viên gia nhập HTX. Nhờ thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, nhất là công tác tuyên truyền, vận động, nhân dân trong xã xin gia nhập HTX nông nghiệp ngày càng đông. Đến cuối năm 1959, toàn xã thành lập được 7 HTX nông nghiệp bậc thấp là:

Hợp tác xã nông nghiệp Yên Sinh.

Hợp tác xã nông nghiệp Yên Tiến.

Hợp tác xã nông nghiệp Kiến An.

Hợp tác xã nông nghiệp Tiến Cường.

Hợp tác xã nông nghiệp Nông Sơn.

Hợp tác xã nông nghiệp Liên Cường.

Hợp tác xã nông nghiệp Ngọc Thanh

Với 7 hợp tác xã trên, Thọ Cườngđã thu hút được hơn 90% nông dân vào làm ăn tập thể theo mô hình mới, chỉ một số ít hộ làm ăn riêng lẻ, số còn lại vẫn duy trì tổ đổi công.

Hưởng ứng phong trào 3 ngọn cờ hồng(29), xây dựng 3 loại hình hợp tác xã nhằm hỗ trợ, thúc đẩy nhau phát triển, giữa năm 1959, hợp tác xã Tín dụng được thành lập. Hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc góp cổ phần, huy động vốn nhàn rỗi trong dân, cho nhân dân vay vốn phát triển sản xuất, nhất là phát triển chăn nuôi. Cũng giai đoạn này, hợp tác xã mua bán được thành lập. Vốn ban đầu do dân đóng góp để xây dựng cơ sở vật chất và dùng để kinh doanh. Hợp tác xã mua bán ra đời đã góp phần quan trọng trong việc phân phối hàng tiêu dùng, phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

Năm 1960 là năm cuối thực hiện kế hoạch 3 năm, chi bộ đã họp và ra Nghị quyết chuyên đề về sản xuất nông nghiệp. Chi bộ đánh giá: những thành tích đạt được trong thời gian qua là quan trọng, toàn xã đã xây dựng được 7 hợp tác xã nông nghiệp, chỉ đạo cấy hết diện tích hiện có, công tác thuỷ lợi bước đầu có kết quả...Bên cạnh những thành tích trên, vẫn còn bộc lộ những yếu kém cần khắc phục như: năng suất lúa một số HTX chưa đạt chỉ tiêu; công tác thủy lợi chưa được chú trọng; việc kiểm tra, đôn đốc chỉ chú trọng giai đoạn đầu, sau xem nhẹ... Chi bộ đề ra biện pháp từng bước đưa sản xuất phát triển. Trước hết là phải từng bước bồi dưỡng năng lực quản lí của đội ngũ cán bộ HTX.

Đồng thời chi bộ xác định rõ nhiệm vụ: Phải củng cố lại hợp tác xã, nhất là hợp tác xã nông nghiệp. Trong năm tới phải vận động được số hộ còn lại tham gia HTX nông nghiệp, 100% hộ tham gia hợp tác xã mua bán, 90% hộ tham gia hợp tác xã tín dụng. Hội nghị cũng đã đề ra nhiều biện pháp phát triển sản xuất, nhất là phát triển chăn nuôi. Về công tác thuỷ lợi, chi bộ ra Nghị quyết tiến hành đắp một số bờ vùng để giữ nước và thuận tiện cho nhân dân đi lại, đắp bờ vùng giữ nước, một số mương tưới cũng được tu sửa, đắp mới.

Đồng thời với công tác thuỷ lợi, chi bộ tập trung chỉ đạo nhân dân cấy hết diện tích, kiên quyết không để ruộng hoang. Sản xuất nông nghiệp thắng lợi sẽ củng có phong trào hợp tác hoá nông nghiệp trên địa bàn xã, góp phần tích cực vào phong trào chung của huyện...Tuy còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, nhân dân Thọ Cường vẫn sôi nổi thi đua quyết giành chiêm mùa bội thu.

 

 

 

 

Công tác văn hoá, giáo dục cũng có những bước phát triển vững chắc, số học sinh đến lớp ngày một tăng, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên. Ngoài trường Cấp I, trong các làng đều có các lớp vỡ lòng dạy các cháu ghép vần, tập viết và làm phép toán cộng, trừ trong phạm vi 10, giáo viên là xã viên HTX nông nghiệp, không hưởng lương mà hưởng công điểm do HTX trả.

Nhờ có phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp mà việc huy động nhân dân tham gia dọn vệ sinh thôn xóm, phát động phong trào phòng chống bệnh tật thuận lợi hơn. Trạm y tế xã được thành lập, bước đầu đã đáp ứng một phần nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.

Trong công tác lãnh đạo, chi bộ nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác xây dựng các tổ chức đoàn thể và chính quyền ở địa phương. Đây là giai đoạn các tổ chức trong địa phương, nhất là Đoàn thanh niên và Hội Phụ nữ có nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi, đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế, xây dựng đời sống mới.

Những năm vừa qua, được sự  quan tâm chỉ đạo của chi bộ, bộ máy chính quyền ở Thọ Cường đã từng bước được kiện toàn và đi vào ổn định. Tuy nhiên, do điều kiện xã hội có nhiều biến đổi, trình độ số đông cán bộ lại hạn chế, nên trong công việc không tránh khỏi lúng túng, sai lầm. Để chính quyền thật sự là của dân, do dân và vì dân, Chi bộ đã nghiêm túc triển khai Chỉ thị 46-TT/CP ngày 19 tháng 4 năm 1960 về công tác giải quyết khiếu tố, khiếu nại của nhân dân. Qua đợt học tập này, bệnh quan liêu, xa rời quần chúng của một số cán bộ giảm hẳn. Cũng qua phát hiện của quần chúng để nhắc nhở và kiểm điểm các cán bộ hợp tác xã nông nghiệp làm thất thoát tài sản công, hoặc tinh thần trách nhiệm chưa cao, chi bộ đã đưa ra hình thức kĩ luật từ phê bình đến khiển trách.

Về công tác giáo dục tư tưởng, lập trường chính trị cho đảng viên luôn được coi trọng. Qua việc kiểm điểm theo Chỉ thị 65-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc học tập Chính cương, Điều lệ Đảng sửa đổi, đa số đảng viên đã có chuyển biến tốt về tư tưởng và lập trường. Tuy nhiên, vẫn còn một số đảng viên chưa thành khẩn trong tự kiểm điểm, vẫn còn hiện tượng, nể nhau, bao che...làm giảm sức chiến đấu và gây mất đoàn kết trong tổ chức Đảng. Để nâng cao chất lượng đảng viên, chi bộ đã quy định: các đảng viên phải gương mẫu trong việc học tập nâng cao trình độ văn hoá, trình độ lí luận và gương mẫu trong lối sống, công việc.

Công tác phát triển Đảng giai đoạn này cũng có tiến bộ. Khi Đảng ta có chủ trương kết nạp Đảng viên mới sau thời gian thực hiện “đóng cửa”, chi bộ đã có nghị quyết gắn trách nhiệm của đảng viên, tổ chức Đảng trong việc giới thiệu, bồi dưỡng đối tượng, chú trọng phát triển Đảng ở các đoàn thể có phong trào mạnh như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ...Thời gian này, xu hướng phấn đấu vào Đảng của quần chúng, nhất là Đoàn thanh niên được nâng lên, nên chi bộ có điều kiện thuận lợi lựa chọn những quần chúng ưu tú vào Đảng.

Để nâng cao sức mạnh của Đảng, chi bộ hết sức coi trọng công tác kiểm tra. Trong công tác này, chi bộ đặc biệt coi trọng việc kiểm điểm đảng viên, trước hết là các đồng chí trong Ban Chấp hành chi bộ và các đồng chí trong Ban quản trị các hợp tác xã. Việc giải quyết những thắc mắc của nhân dân đối với các đồng chí luôn kịp thời, nghiêm khắc, vì vậy kỷ luật Đảng được giữ nghiêm, mang lại lòng tin cho nhân dân vào tổ chức Đảng.

Như vậy, chỉ mấy năm sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, qua hai lần thực hiện kế hoạch 3 năm của Nhà nước về cải tạo, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, chi bộ đã lãnh đạo nhân dân khôi phục và phát triển kinh tế đạt nhiều kết quả tốt. Việc xây dựng thành công 3 ngọn cờ hồng là minh chứng sống động cho quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa đã đơm hoa, kÕt tr¸i trªn ®Êt Thọ Cường.

II. ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ GÓP PHẦN ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1961-1975)

Trong khi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc đang giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định, cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Miền Nam đang phát triển mạnh mẽ, phong trào đồng khởi nổi lên rầm rộ, thì Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp ở Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1960 được tổ chức.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ chung của giai đoạn này là: “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ ở Miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(30)

Nghị quyết của Đại hội đã vạch ra đường lối chung trong thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc là: Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần nồng nàn yêu nước, truyền thống đấu tranh anh dũng và tinh thần cần cù của nhân dân ta...để đưa Miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no ở Miền Bắc và củng cố Miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Thực hiện nghị quyết của Đại hội, chi bộ và nhân dân Thọ Cường dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, quyết tâm phấn đấu vì quê hương giàu mạnh, vì Miền Nam ruột thịt.

1. Thọ Cường thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1961-1965)

Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ III thành công đã cổ vũ nhân dân Thọ Cường hăng hái thực hiện nhiệm vụ xây dựng quê hương mới xã hội chủ nghĩa. Chi bộ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của thời kì này là: tăng cường cơ sở cho các hợp tác xã, từng bước đưa HTX nông nghiệp bậc thấp lên bậc cao. tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, văn hoá, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

Trải qua năm tháng đấu tranh đầy gian khổ, hi sinh, tổ chức Đảng ở Thọ Cường từng bước trưởng thành. Đầu năm 1961, Đảng bộ Thọ Cường chính thức được thành lập, trên cơ sở Chi bộ Thọ Cường trước đây. Đảng bộ có 68 đảng viên, trong đó có 37 đảng viên được kết nạp trong kháng chiến, 19 đảng viên được kết nạp trong đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất, 12 đảng viên mới được kết nạp theo các chi bộ thôn.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Thọ Xuân, ngày 3 tháng 2 năm 1961, Đảng bộ Thọ Cường tổ chức Đại hội lần thứ nhất. Đại hội đã tiến hành đánh giá lại quá trình lãnh đạo nhân dân trong đấu tranh cách mạng và xây dựng cuộc sống mới ở địa phương, giành nhiều thời gian thảo luận việc thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trên địa phương, đặc biệt là việc thực hiện Kế hoạch 5 năm năm lần thứ nhất của Đảng, trong đó đi sâu bàn bạc việc  từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần này  đánh dấu bước trưởng thành cả về chất và lượng của tổ chức Đảng trên địa bàn xã.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ, đồng chí Lê Đình Chỉ được bầu làm Bí thư, đồng chí Phạm Văn Bổng, làm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã.

Sau Đại hội, Đảng bộ chỉ đạo Ủy ban hành chính, các ban ngành, đoàn thể ở địa phương lập kế hoạch, xác định mục tiêu, biện pháp tiến hành thực hiện nhiệm vụ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Đảng bộ chú trọng vào mục tiêu sản xuất nông nghiệp, trong đó tiếp tục đẩy mạnh công tác thủy lợi, tăng diện tích gieo trồng, chú trọng khâu chăm bón; tiếp tục đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa thông qua con đường hợp tác hoá nông nghiệp.

Từ năm 1962, Đảng bộ tập trung lãnh đạo từng bước đưa hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp lên hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, theo tinh thần: “ Hợp tác xã bậc thấp nửa xã hội chủ nghĩa và hợp tác xã bậc cao hoàn toàn xã hội chủ nghĩa”(31). Hợp tác xã bậc cao là hình thức mà toàn bộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ sản xuất của xã viên được góp vào hợp tác xã, phân phối sản phẩm theo hình thức duy nhất là phân phối theo lao động.

Tuy nhiên, cũng như nhiều nơi, quá trình “hợp tác hoá nông nghiệp” là một cuộc đấu tranh gay gắt ở nông thôn. Với tư tưởng ngàn đời của người nông dân là thích tư hữu hữu về tư liệu sản xuất, quen làm ăn nhỏ lẻ, thích ổn định, ngại sự thay đổi...nên nhiều người không muốn vào hợp tác xã, nhất là khi hợp tác xã tiến lên giai đoạn bậc cao thì ruộng đất, trâu bò phải góp chung vào hợp tác xã. Tuy nhiên, do có sự chỉ đạo sâu sát của chi bộ, nhất là công tác tuyên truyền, vận động được chú trọng nên công việc diễn ra tương đối nhanh chóng.

Cùng với việc đưa hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp lên hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, Đảng ủy tiến hành sáp nhập lại các hợp tác xã theo quy mô lớn hơn. Từ 7 hợp tác xã nông nghiệp nay ghép thành 5 hợp tác xã là:

Hợp tác xã Bình Minh.

Hợp tác xã Liên Cường.

Hợp tác xã Tiến Cường.

Hợp tác xã Liên Sơn.

Hợp tác xã Nông Sơn.

Đồng thời với việc thay đổi mô hình hợp tác xã, chi bộ tập trung chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp cải tiến quản lí và đổi mới kĩ thuật, đẩy mạnh việc mở rộng sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng, chú trọng phát triển chăn nuôi...nhằm nâng cao mức thu nhập của xã viên, đồng thời làm tốt nghĩa vụ lương thực đối với Nhà nước.

Về công tác thủy lợi, Đảng bộ đã chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh công tác thuỷ lợi. Hàng năm, các hợp tác xã đều tổ chức những đợt ra quân rầm rộ huy động hàng trăm lao động, trống dong, cờ mở, đào đắp hàng ngàn mét khối đất, nhằm cải tạo hệ thống mương máng, đắp mới bờ vùng, củng cố bờ thửa…

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, tháng 6 năm 1963, Đảng bộ tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ II.

Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ nhiệm kì qua, Đại hội cho rằng: Thời gian qua là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng của phong trào 3 ngọn cờ hồng trên địa bàn. Thực hiện chủ trương của Đảng, đưa nông thôn Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp ở địa phương có nhiều chuyển biến, quy mô hợp tác xã lớn hơn, đặc biệt việc đưa hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp lên bậc cao đã đánh dấu bước chuyển về chất trong phong trào cách mạng ở địa phương. Hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng hoạt động ngày càng hiệu quả khồng những phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân mà còn hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp phát triển. Văn hóa xã hội có bước bước phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao.

Đại hội cũng đã nghiêm khắc kiểm điểm những việc chưa làm được, rút ra bài học kinh nghiệm, trong đó vấn đề hợp tác xã nông nghiệp vẫn bộc lộ những khó khăn về mặt quy mô và trình độ quản lý, do đó Đảng ủy chủ trương trở lại mô hình 7 Hợp tác xã như trước kia.

Đại hội đã thảo luận phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kì mới (1963-1965), trong đó tập trung củng cố 3 loại hình hợp tác xã ở địa phương. Đẩy mạnh sản xuất, từng bước nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi; xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội, từng bước nâng cao đời sống nhân dân.

Đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ, đồng chí Lê Đình Chỉ được bầu lại làm Bí thư, đồng chí Phạm Văn Bổng làm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã.

Sau Đại hội, cán bộ và nhân dân trong xã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống. Đảng ủy và chính quyền quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ về công tác tổ chức, điều hành của các hợp tác xã nên sản xuất phát triển, nhân dân phấn khởi sản suất.

Để từng bước tăng năng suất lao động lên cao, cuối năm 1963, Đảng bộ tập trung chỉ đạo các hợp tác xã thực hiện “Cuộc vận động cải tiến quản lí hợp tác xã, cải tiến kĩ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện và vững chắc” (vòng 1) do Bộ Chính trị Trung ương Đảng phát động. Trong quá trình thực hiện cuộc vận động này, Đảng ủy, chính quyền tập trung chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp định hướng sản xuất, lập kế hoạch từng năm, từng vụ về sản xuất, về lao động, tài vụ, định mức điểm khoán cho từng việc, lập sổ sách thống kê, kế toán. Đồng thời các hợp tác xã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt “3 khoán, 3 quản” gồm: khoán công, khoán việc, khoán sản phẩm; quản lao động, quản tài chính, quản sản phẩm.

Cùng với cải tiến công tác quản lí trong các hợp tác xã nông nghiệp, để tăng năng suất cây trồng, việc đưa các ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Các phong trào cấy lúa chăng dây thẳng hàng, ngâm giống 2 sôi 3 lạnh, làm cỏ sục bùn bằng cào cải tiến...được các hợp tác xã tích cực vận dụng.

Bên cạnh các biện pháp kĩ thuật trên, việc chăm sóc bón phân cho cây trồng cũng được coi trọng, để đảm bảo nguồn phân cho sản xuất, Đảng bộ đã chỉ đạo cho các hợp tác xã lập kế hoạch chi tiết. Trên cơ sở tính toán khoa học về chất đất của từng cánh đồng, đặc tính sinh học của từng giống lúa, hoa màu, thống kê nguồn phân trong dân, cân đối số phân còn thiếu để có hướng giải quyết. Các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, đội sản xuất phát động các phong trào thi đua làm phân xanh, tăng nhanh lượng phân chuồng, lấy bùn ao phục vụ sản xuất.

Tính đến năm 1964 toàn xã có 514 hộ vào hợp tác xã nông nghiệp, chỉ còn lại một hộ chưa vào (do giác ngộ thấp). Cả xã chỉ có một hộ làm máy khâu, một hộ cắt tóc, một hộ buôn bán hàng vặt cũng đã chuyển gia đình vào hợp tác xã nông nghiệp. Như vậy lúc này xã Thọ Cường đã có 99,8% số hộ vào hợp tác xã.

Các nghành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản được mở rộng. Ngành tiểu thu công nghiệp dịch vụ được hình thành (hợp tác xã mua bán, tổ nung vôi, nung gạch).

Năm 1963, được sự giúp đỡ của Bộ Nông nghiệp, Ty Nông nghiệp Thanh Hoá đã thành lập trại giống lúa tại Đông Tân (Đông Sơn). Tại đây, Giáo sư nông học Lương Đình Của cùng các đồng sự đã nhân giống thành công một số giống mới có năng suất cao như Trân châu lùn, Nông nghiệp 5, Nông nghiệp 8...Các hợp tác xã của Thọ Cường bước đầu tiếp cận với các giống lúa mới, từng bước đưa năng suất lên 100 kg /sào.

Nhờ có sự chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Ủy ban hành chính xã, sự năng động của đội ngũ Ban Quản trị các hợp tác xã, sự nhiệt tình của xã viên, sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường có bước phát triển khá. Tổng sản lượng lương thực năm 1964 đạt 565 tấn, cơ sở vật chất như: nhà kho sân phơi, chuồng trại chăn nuôi lợn tập thể được xây dựng ở các hợp tác xã nông nghiệp. Chăn nuôi tiếp tục được tăng cường, chủ trương của Đảng ủy là mỗi gia đình nuôi được 1 – 2 con lợn, thành lập các trại chăn nuôi ở hợp tác xã. Vì vậy, đàn trâu bò đạt 195 con (trâu 132, bò 63 con); đàn lợn 950 con, trong đó tập thể 110 con

Điển hình cho phong trào chung của xã là hợp tác xã Liên Cường đã được Ủy ban hành chính huyện Thọ Xuân công nhận là hợp tác xã tiến tiến và tặng Giấy khen.

Vừa chăm lo đẩy mạnh sản xuất, Đảng bộ vừa chú trọng lãnh đạo nhân dân xây dựng đời sống văn hoá. Tuy đã hoàn thành xoá nạn mù chữ từ năm 1948 nhưng tỉ lệ người mù chữ vẫn còn trên 20%, đặc biệt, do học tập không thường xuyên, nhất là những người lớn tuổi, nên xuất hiện hiện tượng tái mù chữ. Các tổ chức đoàn thể, nhất là Đoàn Thanh niên đã vận động đoàn viên đi học bổ túc văn hóa nâng cao trình độ, nhờ vậy mà phong trào học tập vẫn được duy trì, kết quả xoá nạn mù chữ ở Thọ Cường được giữ vững.

Sau nhiều năm học nhờ, học tạm, ngày 4 tháng 9 năm 1962, trường cấp I Thọ Cường chính thức được khánh thành gồm 9 phòng học bằng gạch ngói, vật liệu chủ yếu được dỡ từ đình làng Quần Tín. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng các trường ở Thọ Cường vẫn đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt”. Năm 1963 lụt lớn, cái đói ập đến mọi nhà, vượt qua mọi gian khó, thầy và trò vẫn thi đua dạy tốt, học tốt. Giáo viên “ba cùng”(32) với dân, nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội được thể hiện trong từng bài giảng, từng buổi lao động. Nhiều năm liên tục, trường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, các lớp học phải sơ tán vào các nhà dân luỹ tre xanh thành tán lá ngụy trang. Lớp học ẩn mình giữa bốn bề luỹ cao, học sinh đội mũ rơm đến trường, trong cặp giáo án của thầy, cô giáo, túi sách của học trò có thêm chiếc túi cứu thương, buổi học, buổi đào hào, gánh đất đắp luỹ, thầy và trò trường Thọ Cường ng vẫn vững vàng trên mặt trận giáo dục.

Phong trào văn hoá, văn nghệ cũng phát triển mạnh, hợp tác xã nào cũng có đội văn nghệ. Mỗi làng có một sắc thái riêng, vừa phát huy truyền thống làng quê, vừa tiếp thu nền văn nghệ mới,. Trên các công trình thuỷ lợi, những đợt dân công, đều có đội văn nghệ ra tận công trường phục vụ. Những năm về sau, khi phong trào “Tiếng hát đồng quê” được phát động, phong trào văn nghệ của Thọ Cường càng phát triển mạnh.

Công tác thông tin, tuyên truyền  được các cấp uỷ hết sức coi trọng, làng nào cũng có đội thông tin tuyên truyền. Hàng đêm, thông báo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tin chiến thắng từ chiến trường, kế hoạch và tiến độ sản xuất của đội, của hợp tác xã cho toàn dân.

Phong trào văn hoá, văn nghệ đã cổ vũ nhân dân Thọ Cường vượt qua mọi khó khăn hăng hái thi đua sản xuất, xây dựng cuộc sống mới.

Trạm xá xã được xây dựng ở Nông Sơn có 3 cán bộ (2 y tá, 1 hộ lí). Để giữ gìn sức khoẻ nhân dân. Đảng bộ đã chỉ đạo các cấp chính quyền, đoàn thể, đẩy mạnh phong trào ba sạch” (ăn sạch, uống sạch, ở sạch). Với phương châm, phòng bệnh hơn chữa bệnh, trạm xá xã đã tham mưu cho Đảng ủy và chính quyền phát động thi đua “ 3 dứt điểm” với nội dung mỗi gia đình có 3 công trình vệ sinh: nhà tiêu, giếng nước và nhà tắm. Các đoàn thể, nhất là Hội Phụ nữ và Đoàn thanh niên đã hưởng ứng sôi nổi. Cuối năm 1965, toàn xã đã có nhiều gia đình đào được giếng nước, làm được nhà tiêu và một số gia đình làm được nhà tắm.

Công tác quốc phòng - an ninh luôn được Đảng bộ và các cấp chính quyền quan tâm xây dựng. Tất cả các thôn đều xây dựng trung đội dân quân.  Các trung đội dân quân tích cực luyện tập sẵn sàng chiến đấu, xây dựng các phương án tác chiến khi có địch đánh phá bằng đường không. Với tinh thần, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, thanh niên Thọ Cường nô nức lên đường tòng quân cứu nước, tình hình trật tự an ninh thôn xóm được giữ vững. Những tháng năm này, ý thức trách nhiệm, tinh thần tập thể của nhân dân Thọ Cường lên rất cao.

Đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng chiến tranh, đồng bào Miền Nam anh dũng đã giáng trả những đòn đích đáng vào bọn Mỹ Ngụy, để xây dựng hậu phương lớn của cuộc kháng chiến, tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (năm 1964) Hồ Chủ Tịch đã viết  thư kêu gọi nhân dân Miền Bắc tích cực sản xuất, chi viện cho đồng bào Miền Nam. Người đề nghị phát động phong trào thi đua: “Mỗi người làm việc bằng hai”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi.

Để phong trào phát triển sâu rộng trong quần chúng, Đảng bộ đã coi trọng công tác tuyên truyền, động viên, nhằm tạo nên động lực cách mạng mạnh mẽ. Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ, các hợp tác xã, các đoàn thể đã phát động thi đua trong tổ chức của mình một cách thiết thực, cụ thể nhất. Đảng bộ đề ra, khi phát động phong trào, phải đạt được các mục tiêu: về chính trị, tác động mạnh mẽ đến quần chúng nhân dân lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; thấy được trách nhiệm to lớn của người dân đối với vận mệnh Tổ quốc, tất cả vì miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vì miền Nam ruột thịt. Mỗi người dân hiểu rằng, sự cố gắng của họ là góp phần đưa cách mạng Miền Nam mau thắng lợi. Tạo nên động lực cách mạng mạnh mẽ, tự lực cánh sinh, vượt khó vươn lên giành thắng lợi trên mặt trận sản xuất và chiến đấu. Về sản xuất, phải làm tốt cả 3 mặt: tăng diện tích, tăng năng suất và đẩy mạnh phát triển chăn nuôi; Phải làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước trên cả 3 mặt: hoàn thành nghĩa vụ thuế, bán nhiều lúa khuyến khích(33), bán thực phẩm vượt mức.

Khẩu hiệu đặt ra thời kì này là: “Ra sức xây dựng và bảo vệ Miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng Miền Nam”; “Vì Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vì Miền Nam thống nhất đất nước, mỗi người làm việc bằng hai”; “Nghiêm chỉnh chấp hành chính sách ba thu của Chính phủ”; “Quyết tâm thu hoạch vụ chiêm, thực hành tiết kiệm lương thực, chống tham ô, lãng phí”...trở thành lẽ sống, là phương châm hành động của cán bộ và nhân dân Thọ Cường ngày tháng năm này.

Phong trào ‘‘mỗi người làm việc bằng hai’’ là tư tưởng xuyên suốt từ trong Đảng đến mỗi quần chúng, Đảng bộ phân công các Đảng uỷ viên phụ trách từng khu vực, đội sản xuất, đoàn thể. Cán bộ bám sát phong trào, cùng làm với dân, ai cũng nổ lực phấn đấu, “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, “sáng trưa chiều tối, bốn buổi ngoài đồng, chung sức chung lòng, chiêm xuân đại thắng”(34).

Các tổ chức đoàn thể như: Hội Phụ lão, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên có những phong trào thi đua riêng, cuốn hút toàn thể đoàn viên, hội viên vào cuộc. Hàng tuần, các điển hình tiên tiến trong sản xuất, công tác được biểu dương kịp thời trên bảng tin, các buổi phát thanh của thôn xóm.

Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã vượt qua muôn vàn thử thách, vừa từng bước xây dựng hợp tác xã, thiết lập quan hệ sản xuất mới, xây dựng đời sống văn hoá mới, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, vừa sẵn sàng ứng phó với tình hình chiến sự xảy ra, chi viện sức người sức của cho Miền Nam ruột thịt. Nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của các tổ chức Đảng, sự sáng tạo cần cù của nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của Thọ Cường đã có những bước phát triển vững chắc, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt, bộ mặt làng quê ngày càng đổi mới. Đó là những kết quả rất đáng tự hào của Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường trong giai đoạn lịch sử này.

2. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân xây dựng quê hương và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, giai đoạn 1965 - 1970

Căn cứ đề nghị của Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa, ngày 16 tháng 12 năm 1964 Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra Quyết định 177CP. Cắt 20 xã phía bắc huyện Nông Cống và 13 xã nam huyện Thọ Xuân để thành lập huyện Triệu Sơn thuộc Tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 25 tháng 2 năm 1965 tại sân kho hợp tác xã Minh Hưng, xã Minh Châu lễ công bố thành lập huyện Triệu Sơn và Đảng bộ Huyện Triệu Sơn được long trọng tổ chức. Đảng bộ huyện Triệu Sơn khi thành lập gồm 44 Đảng bộ xã và cơ quan. Trong đó có Đảng bộ xã Thọ Cường.

Ngày 12 tháng 3 năm 1965 Huyện ủy Triệu Sơn tổ chức phiên họp đầu tiên. Nghị quyết của Huyện ủy đã có hiệu lực và đi vào lòng dân, đã tập hợp sức mạnh đại đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân thi đua phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị vững mạnh.

Giai đoạn này, tình hình trong nước diễn biến rất phức tạp. Ngày 5 tháng 8 năm 1964 sau khi dựng lên cái gọi là “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ nhất đối với Miền Bắc nước ta, nhằm mục đích ngăn chặn sự chi viện to lớn của nhân dân miền Bắc đối với đồng bào Miền Nam ruột thịt, phá hoại công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và làm giảm quyết tâm chống Mỹ của nhân dân ta. Đế quốc Mỹ huyênh hoang tuyên bố: “ đẩy lùi Bắc Việt Nam về thời kì đồ đá”(35). Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bước vào giai đoạn mới, giai đoạn chiến tranh gay go và ác liệt hơn.

 Phong trào xây dựng quê hương đang phát triển, thì đế quốc Mỹ sử dụng không quân hải quân mở cuộc tấn công ra Miền Bắc, Hàm Rồng Thanh Hóa trở thành trọng điểm đánh phá của kẻ địch. Đáp trả sự liều lĩnh của kẻ địch, quân và dân tỉnh ta đã sẵn sàng chiến đấu, giảng trả những đòn sấm sét vào lũ giặc trời. Ngày mùng 3 mùng 4 tháng 4 năm 1965 quân dân Thanh Hóa đã bắn rơi 47 máy bay và bắt sống 2 giặc lái. Trước tình hình đó Đảng bộ huyện Triệu Sơn lãnh đạo quân dân trong huyện bình tỉnh, dũng cảm cùng quân dân trong tỉnh chuyển hướng hoạt động từ thời bình sang thời chiến và tổ chức lực lượng sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi: “ Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(36).

Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Miền Bắc là kịp thời chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và xây dựng lực lượng quốc phòng. Làm cho miền Bắc lớn mạnh đủ sức chống lại các cuộc ném bom bắn phá, phong toả của kẻ địch, sẵn sàng đối phó với tình hình địch mở rộng chiến tranh ở bất cứ mức độ nào, hết lòng, hết sức chi viện cho đồng bào miền Nam ruột thịt, đồng thời đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Trong hoàn cảnh ấy, tháng 5 năm 1965, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy Triệu Sơn, Đảng bộ xã Thọ Cường tiến hành Đại hội lần thứ III. Đại hội kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ nhiệm kì trước, khẳng định, thành tích đạt được là quan trọng và khá toàn diện, Đảng bộ trưởng thành về mọi mặt, hiệu quả trong công tác được nâng cao, trình độ văn hoá của đảng viên từng bước được cải thiện, tình hình kinh tế, xã hội trên địa phương có bước phát triển đáng kể, song, so với yêu cầu và nhiệm vụ chung, những kết quả đó vẫn chưa thật tương xứng. Phong trào xây dựng hợp tác xã tuy có tiến bộ nhưng kết quả đạt được còn thấp, mức sống của nhân dân nâng lên không đáng kể.

Đại hội đã đề ra biện pháp khắc phục những mặt yếu kém, đồng thời xác định phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 1965 – 1967, với trọng tâm là:

Tiếp tục chi viện sức người, sức của cho cách mạng để đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Đẩy mạnh phong trào thi đua 3 giỏi (sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi và giao thông vận tải giỏi)

Phát động phong trào thi đua 5 tấn thắng Mỹ.

Đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa - giáo dục – y tế

Xây dựng Đảng bộ, chi bộ và đảng viên đạt 4 tốt.

Đại hội đã đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết lần thứ II của Đảng bộ và đề ra phướng hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 1965 - 1967. Đồng thời đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ, Lê Đình Chỉ tiếp tục được bầu tái cử làm Bí thư, đồng chí Lê Thị Viên làm Chủ tịch uỷ ban hành chính xã, đồng chí Phạm Văn Bổng làm Trực Đảng.

Ngay sau khi Đại hội, Đảng ủy đã chỉ đạo củng cố và tăng cường sức mạnh của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức quần chúng và lực lượng dân quân tự vệ.

Công tác xây dựng Đảng được Đảng ủy chỉ đạo chặt chẽ nhằm xóa điểm trắng không có Đảng viên ở thôn xóm. Đến năm 1965 tổng số Đảng viên trong Đảng bộ lên 89 đồng chí.

Sau Đại hội, nhân dân trong xã đã tổ chức nhiều phong trào thi đua sôi nổi, vì Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vì Miền Nam ruột thịt.

Phong trào sản xuất và sẵn sàng chi viện chiến đấu.

Ngoài mặt trận, tin chiến thắng liên tiếp báo về, những thắng lợi ở Củ Chi, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, rồi thắng lớn ở Quảng Ngãi, Phú Yên, đặc biệt chiến thắng Khe sanh - Đường Chín Nam Lào đã làm nức lòng nhân dân cảc nước. Theo sự chỉ đạo của huyện, Đảng ủy xã đã tổ chức mít tinh chào mừng thắng lợi của nhân dân Miền Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ cũng bị quân và dân Miền Bắc giáng cho những đòn sấm sét, với khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù bắn”, lực lượng phòng không ta đánh cho những “thần sấm”, “con ma”, uy lực của không quân Hoa Kì tan tác.

Chiến thắng tiếp tin chiến thắng, ở hậu phương, nhân dân Thọ Cường hăng hái lập công thi đua với tiền tuyến. Trong công tác tổ chức đoàn thể, Đảng bộ tập trung chỉ đạo các phong trào cụ thể, phong trào “3 sẵn sàng” với nội dung: thanh niên sẵn sàng chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng gia nhập bộ đội; Thanh niên sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập trong bất kì tình huống nào; Thanh niên đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần, đã thực sự tạo động lực thúc đẩy tuổi trẻ hăng say phấn đấu, luyện rèn. Trong phong trào nhập ngũ lên đường chiến đấu thanh niên Thọ Cường đã hăng hái lên đường làm nhiệm vụ. Nhiều người đi thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc cần. Trong sản xuất, thanh niên Thọ Cường đi đầu trong phong trào thâm canh tăng năng suất, cải tiến nông cụ sản xuất, áp dụng khoa học kĩ thuật. Phong trào nhận ruộng cao sản, xây dựng ruộng thanh niên, cánh đồng thanh niên với năng suất vượt mức trung bình của hợp tác xã từ 50% đến 100%, đã thực sự lôi cuốn mọi đoàn viên vào cuộc. Thanh niên còn là lực lượng nòng cốt trong các phong trào nuôi bèo hoa dâu, làm thuỷ lợi. Từ các phong trào này đã xuất hiện các kiện tướng thuỷ lợi, kiện tướng bèo hoa dâu, nhiều người được vinh dự đứng vào đội ngũ của Đảng.

Cùng với phong trào “3 sẵn sàng” là phong trào Phụ nữ “3 đảm đang” do Ban Chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ phát động ngày 19 tháng 3 năm 1965. Nội dung của phong trào này là: đảm đang sản xuất và công tác; đảm đang chiến đấu và phục vụ chiến đấu; đảm đang công việc gia đình. Hưởng ứng phong trào trên, phụ nữ Thọ Cường đã sôi nổi thi đua với nhiều hình thức phong phú. Các phong trào “Đường cày đảm đang”, “Hội thi tài cấy giỏi”, “Cánh đồng Bà Triệu”... đã tạo nên một không khí thi đua sôi nổi, góp phần đưa năng suất lúa lên cao. Nhiều chị em nuôi con giỏi, dạy con ngoan, đảm việc nhà, động viên chồng con ngoài mặt trận yên tâm chiến đấu. Có chị ngoài đảm việc nhà còn giỏi việc nước, tham gia công tác xã hội... Từ phong trào này, phong trào phụ nữ trong xã trưởng thành nhiều mặt. Phong trào đã tạo nên một sức mạnh tinh thần góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường tiếp tục thu được những kết quả khả quan. Các hợp tác xã đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất như: lán trại, sân phơi, kho, mua sắm thêm nông cụ để sản xuất.

Trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đại hộ đề ra, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã nổ lực phấn đấu với tinh thần vì Miền Nam ruột thịt, vì Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Năng suất lúa từng bước nâng cao, ngành nghề được chú trọng và bước đầu cho kết quả khá, các phong trào quần chúng được củng cố và phát triển. Đặc biệt, phong trào “làm việc bằng hai” đã lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân lao động với tinh thần lên rất cao. Tinh thần đề cao cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ của toàn dân được đẩy mạnh. Đảng bộ cũng nhận thấy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ còn nhiều khiếm khuyết cần khắc phục: năng suất lúa còn thấp, chưa tương xứng với điều kiện thực tế, thu nhập của xã viên chưa cao, công tác thuỷ lợi, tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất...

Giai đoạn này, đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc, Thanh Hoá là một trọng điểm bị đánh phá ác liệt. Hàm Rồng hứng chịu hàng ngàn tấn bom của bọn giặc trời, thị xã Thanh Hoá bị chúng quần đảo suốt ngày đêm. Thời kì này xã Thọ Cường có vị trí quan trọng có đường giao thông huyết mạch đi qua, là địa bàn đóng quân của các đơn vị bộ đội, các cơ quan của Tỉnh và Trung ương sơ tán, đặc biệt xã Thọ Cường rất gần với sân bay Sao Vàng, trọng điểm đánh phá của máy bay giặc Mỹ. Chính vì vậy, suốt ngày đêm tiếng máy bay gầm rú, bom nổ rung chuyển nhà cửa.

Sự tàn bạo của kẻ thù không làm cho nhân dân ta run sợ mà càng nung nấu ngọn lửa căm hờn. Người Thọ Cường vẫn vững vàng trên mặt trận sản xuất, tay cày, tay súng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Tất cả các làng đều có trạm phòng không, tiếng kẻng báo động vang lên, nhân dân nhanh chóng và hầm trú ẩn, trung đội dân quân vào vị trí chiến đấu. Những khẩu súng trường sẵn sàng nhả đạn giáng trả lũ giặc trời, địch đánh ban ngày, ta cấy dưới ánh trăng, lúa vẫn cấy chăng dây thẳng hàng, bèo hoa dâu vẫn phủ xanh đồng ruộng. Trong bom, trong đạn lúa vẫn lên xanh tốt, những hạt gạo nặng nghĩa tình của Thọ Cường vẫn được gửi ra tiền tuyến, lớp lớp thanh niên Thọ Cường vẫn lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Từ 1965 đến 1968 xã Thọ Cường đã huy động 237 thanh niên nam nữ tham gia bộ đội, thanh niên xung phong tham gia chiến đấu trên các chiến trường. Với tinh thần tay cày tay súng Đảng bộ xã Thọ Cường đã huy động hàng trăm dân công, hàng trăm khối gạch đá, hàng trăm cây tre, để chống lầy sửa đường cho xe qua.

Cùng với trồng trọt, phong trào chăn nuôi cũng được Đảng bộ tập trung chỉ đạo. Ngay từ khi thành lập hợp tác xã, Thọ Cường đã phấn đấu chỉ tiêu mỗi gia đình nuôi hai con lợn. Nếu như năm 1966 về trước trung bình mỗi gia đình chỉ đạt 1 con lợn là chủ yếu, thì giai đoạn 1966 – 1970 đa số các gia đình nuôi 2 con lợn. Đặc biệt, việc hình thành mô hình chăn nuôi tập thể đã góp phần tăng đàn lợn lên nhanh chóng, bình quân mỗi năm đàn lợn trong xã đạt trên 600 con. Việc phát triển chăn nuôi, đã góp phần cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi trong sản suất nông nghiệp, đồng thời tạo nên nguồn phân để thâm canh lúa, màu.

Để đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, một nhiệm vụ đặt ra, phải củng cố và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp. Giai đoạn này, các  hợp tác xã nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương, góp phần tích cực làm tốt chính sách hậu phương quân đội. Dù gặp nhiều khó khăn, sản xuất vẫn phát triển, diện tích, năng suất, sản lượng, của các hợp tác xã vẫn không ngừng tăng lên.

Tháng 4 năm 1966, các hợp tác xã nông nghiệp ở Thọ Cường thực hiện cuộc vận động cải tiến hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nông nghiệp (vòng 2). Cũng trong thời gian này, Đảng ủy đã chỉ đạo hợp nhất các hợp tác xã từ 7 hợp tác xã xuống 2 hợp tác xã là hợp tác xã Liên Cường và hợp tác xã Minh Sơn.

Từ sự chỉ đạo đúng đắn đó, đã giúp các hợp tác xã xác định đúng đắn phương hướng sản xuất. phù hợp với khí hậu, đất đai, mùa vụ, xác định cây trồng vật nuôi và các biện pháp thâm canh tăng vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực quản lý, thực hiện khoán công điểm cho từng khâu công việc. Chế độ ăn chia phân phối công bằng minh bạch hơn, xã viên yên tâm và tích cực tham gia các phong trào thi đua làm thủy lợi, làm phân bón mua sắm các công cụ sản xuất như xe cải tiến, nạo Nhật Bản…

Phong trào thi đua ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất được đông đảo nhân dân hưởng ứng như: gieo mạ luống, cấy giăng dây thẳng hàng, nuôi bèo hoa dâu. Hợp tác xã đã thành lập các đội chuyên như: đội thúc mầm ngâm ủ giống lúa, đội làm đất, đội nuôi bèo dâu, tổ chăn nuôi lợn, tổ nuôi cá…

Nhờ tiến hành đồng thời nhiều biện pháp, nhất là ruộng đất và sức lao động được sử dụng tập trung thống nhất, khắc phục được tình trạng manh mún, phân tán mà, dù trong điều kiện đất nước chiến tranh lực lượng trẻ khỏe đều lên đường vào Nam chiến đấu làng xã chỉ còn lại người già, phụ nữ và trẻ em, năng suất vẫn ngày một cao, tổng sản phẩm lương thực tăng từ 565 tấn lên 638 tấn.

Hưởng ứng phong trào thi đua ba giỏi do Hội nghị Công - Nông – Binh toàn tỉnh phát động, xã Thọ Cường có đủ điều kiện chi viện cho tuyền tuyến và phát triển kinh tế địa phương, đồng thời đảm bảo an toàn giao thoongh trên tuyến đường qua xã.

Miền Nam đánh mạnh, thắng giòn giã, với khẩu hiệu “Tất cả vì miền nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, những hạt gạo nghĩa tình của người Thọ Cường lại theo mọi nẻo đường ra tiền tuyến. Hàng năm Thọ Cường luôn hoàn thành nghĩa vụ lương thực, thực phẩm cho Nhà nước, năm 1970, tuy mất mùa nhưng xã vẫn hoàn thành chỉ tiêu được giao.

Các nghành nghề thủ công cũng được Đảng bộ quan tâm chỉ đạo, từ năm 1965 đến năm 1970 trung bình mỗi năm toàn xã sản xuất được hàng chục nghìn viên gạch và hàng trăm tấn vôi. Các hợp tác xã còn thành lập các đội thợ mộc, thợ nề để sửa chữa nông cụ, xây các công trình thuỷ lợi và xây dựng nhà cửa cho nhân dân.

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, 3 ngọn cờ hồng ở Thọ Cường vẫn phát huy tác dụng và từng bước trưởng thành. Hợp tác xã mua bán đã kịp thời phân phối các mặt hàng nhu yếu phẩm như: muối, dầu, vải..., ngoài ra còn chủ động thu mua các mặt hàng nông phẩm, thủ công nghiệp, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, vừa tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Hợp tác xã tín dụng tích cực hoạt động huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân cho các hợp tác xã vay để phát triển sản xuất.

Về văn hoá, xã hội. Giặc Mỹ điên cuồng bắn phá, giáo viên và học sinh ở nhiều trường trong tỉnh ngã gục dưới trang vở còn thơm mùi giấy, các cháu học sinh vẫn cắp sách tới trường. Phong trào xây dựng Nhà trường xã hội chủ nghĩa vẫn được đẩy mạnh, lớp học được sơ tán vào nhà dân, bên cạnh hào giao thông, trong hầm chữ A, các trường vẫn phát động phong trào thi đua noi gương anh hùng Nguyễn Bá Ngọc quên mình cứu bạn. Do có nhiều thành tích cao trong dạy và học, nhiều năm các trường ở Thọ Cường đạt danh hiệu trường Tổ đội xã hội chủ nghĩa. Năm 1970, Trường cấp 2 chính thức được thành lập, trên cơ sở tách số học sinh con em Thọ Cường đang học ở Trường cấp 2 Xuân Thọ về. Từ đây con em trong xã không phải đi học xa, vì vậy số học sinh học hết cấp 1 lên học cấp 2 ngày càng đông. Năm học 1965 - 1966 có 342 em từ cấp 1 đến cấp 3 đến năm 1970 tăng lên 658 em, mặc dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt nhưng phong trào thi đua dạy tốt học tốt vẫn diễn ra sôi động, thầy trò đã khắc phục khó khăn thiếu thốn thi đua dạy tốt học tốt, thực hiện phương châm “gia đình - nhà trường - xã hội”, giáo dục đào tạo thế hệ con cháu trở thành công dân có ích cho xã hội . Giai đoạn này là thầy Nhâm làm hiệu trưởng trường cấp 1, thầy Hiệp làm hiệu trưởng trường cấp 2.

Công tác Y tế được quan tâm đúng mức, cơ sở vật chất tiếp tục được tăng cường mua sắm thêm trang thiết bị, điều kiện khám và chữa bệnh khá hơn trước, các chương trình tiêm chủng mở rộng, vệ sinh môi trường được triển khai trạm y tế đã xây dựng được được một tổ hộ sản, mặc dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt thuốc men thiếu thốn, nhưng cán bộ nhân viên trạm y tế  vẫn thường  xuyên bám sát  cơ sở, hướng dẫn nhân dân xây dựng 3 công trình vệ sinh (giếng nước - nhà tắm - nhà tiêu) đúng quy cách góp phần đẩy lùi các bệnh xã hội.

Hoạt động văn hóa xã hội thời ký này có nhiều cách làm tích cực. Một mặt xã đã thành lập đội tuyên truyền lưu động xuống các xóm, làng. Tuyên truyền giáo dục đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương, nêu gương người tốt việc tốt- mặt khác phát động các xóm và Đoàn Thanh niên xây dựng các bảng tin ở ngã ba, ngã tư đồng thời tận dụng những nơi thuận tiện để kẻ vẽ thông tin, khẩu hiệu tuyên truyền tin chiến thắng ngoài mặt trận, nhằm giáo dục truyền thống khích lệ phong trào nhờ đó cán bộ và nhân dân trong xã đã lập nhiều thành tích trong sản xuất và chi viện sức ngươi sức của cho tuyền tuyến. Phong trào thể thao cũng phát triển mạnh, các làng đều tổ chức được các đội bóng đá, bóng chuyền, đặc biệt, các trung đội dân quân luôn kết hợp giữa luyện tập sẵn sàng chiến đấu và thể thao quốc phòng đã tạo nên một nét mới trong rèn luyện thân thể ở giai đoạn này.

Công tác quốc phòng - an ninh được đặc biệt coi trọng, Đảng bộ đã có nhiều nghị quyết chỉ đạo xây dựng quốc phòng toàn dân. Các trung đội dân quân, tự vệ thường xuyên luyện tập, tham gia các đợt diễn tập phối hợp đánh địch đổ bộ do huyện tổ chức, các chiến sĩ dân quân đều được trang bị dáo, mác,  mỗi trung đội có từ 2 đến 5 khẩu súng trường. Mỗi người tự sắm một gậy bằng tre, trên có quấn sợi dây, để sẵn sàng tham gia bắt, trói phi công Mỹ nhảy dù. Ngoài ra xã còn thành lập các đội dân quân tham gia sửa chữa đường giao thông, sẵn sàng ứng cứu nếu máy bay Mỹ đánh vào địa phương. Cũng thời gian này xã đã thành lập đội xe thồ tiền phương, năm 1967, xã Thọ Cường có 23 người tham gia đơn vị xe đạp thồ, vận chuyển lương thực thực phẩm cho chiến trường,.

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, cán bộ đảng viên và nhân dân đã kịp thời xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân. Đào đắp hàng ngàn mét giao thông hào, hàng trăm hầm trú ẩn, sơ tán trường học, phát động trồng cây ngụy trang cầu cống, đường xá và lớp học. Xây dựng lũy đất chống mảnh đạn, học sinh đến lớp đội mũ rơm, tổ chức đội cứu thương cứu hỏa, đội dân quân trực chiến ngay trên đỉnh núi Ngọc. Nhà ở, đường làng, trường học đều có hào giao thông, hào cá nhân, toàn dân Thọ Cường sống trong không khí của những ngày đánh Mỹ.

Tháng 8 năm 1967, Đại hội Đảng bộ Thọ Cường lần thứ IV đã tổng kết đánh giá thành tích trong chiến đấu, sản xuất giao thông vận tải và đề ra nhiệm vụ khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh nhằm tăng cường chi viện cho chiến trường Miền Nam. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 7 đồng chí, trong đó Ban Thường vụ gồm: đồng chí Phạm Văn Bổng làm bí thư; đồng chí Phạm Văn Tích làm Chủ tịch; đồng chí Lê Đình Chỉ làm Trực Đảng

Đại hội đánh giá nhiệm kỳ 2 năm (1965 - 1967) sản xuất nông nghiệp đã có bước chuyển tiến bộ, hoạt động văn hóa xã hội được đẩy mạnh, công tác tuyển quân hàng năm đều hoàn thành và vượt chỉ tiêu trên giao.

Đại hội đề ra nhiệm vụ: trước hết cần tập trung đưa nông nghiệp phát triển toàn diện, tạo ra khối lượng lương thực thực phẩm phục vụ đời sống nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho chiến trường Miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ và thấm nhuần sâu sắc nhiệm vụ thiêng liêng của cả nước là tập trung sức người sức của thực hiện bằng được mục tiêu “giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất tổ quốc”.

 Thực hiện khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân. quân không thiếu một người, cùng với khí thế cách mạng chung của cả nước. Thanh niên Thọ Cường hăng hái lên đường nhập ngũ, "cha đi trước con đi sau, anh chưa về em tiếp bước". Ở hậu phương "ngày làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm", phấn đấu rút ngắn thời gian thực hiện 3 mục tiêu trong nông nghiệp, tập trung xây dựng cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ do Huyện ủy Triệu Sơn phát động, cũng trong thời gian này, Thọ Cường đã sửa chữa và mở rộng hành lang đường liên xóm, phát động toàn dân làm thủy lợi.

Hợp tác xã Liên Cường tập trung đắp 5 đập lớn thuộc các khu vực đồng sâu  gồm: (Đồng Sông - đồng Bị- đồng Són- nhà Chặm, đập Dân quân) và 3 mương lớn, từ Khôn Rú xuống cầu Phốc qua đồng Rào; từ Khanh Rứa qua bãi Chòi đến đồng Sông; từ đồng Bốn chạy cầu Rào với 4.500m3 đất

Hợp tác xã Minh Sơn: tập trung đắp đập đồng Núi, mương Ông Tran, mương từ cầu Chược đến Kiến An và từ lò gạch đến đồng Ớt 15 với 3.600m3 đất

Các hợp tác xã mạnh dạn đưa các loại giống mới có năng xuất cao vào sản xuất như: NN8, NN22, IP1, Chân châu lùn…

Nhờ vậy diện tích gieo trồng của xã là 240ha, tổng sản lượng lương thực đạt 950 tấn so với thời kỳ 1966 tăng 312 tấn, làm nghĩa vụ nhà nước 125 tấn.

Công tác xây dựng Đảng được quan tâm trên cả 3 mặt: chính trị - tư tưởng và tổ chức. Nhìn chung các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên đều được tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện  trên cơ sở thống nhất về mặt nhận thức mà xây dựng thành chương trình hành động có sơ kết, tổng kết, tạo nên sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong Đảng bộ và nhân dân.

Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị, nhà nước, pháp luật được Đảng ủy hết sức quan tâm, hàng năm đều cử cán bộ theo học các lớp do huyện và tỉnh mở, năm 1968 có 4 đồng chí theo học lớp “nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin” do Huyện ủy tổ chức, ngoài ra Đảng ủy còn tổ chức cho Đảng bộ học tập các chuyên đề về chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Từ năm 1965 đến năm 1969, Đảng ủy đã cử đi học bồi dưỡng lý luận chính trị và văn hóa cho 12 đồng chí cấp ủy và 25 đảng viên, kết nạp 21 Đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên trong Đảng bộ lên 110 đồng chí.

Vào ngày 5 tháng 1 năm 1968, lúc 6h sáng, Đảng bộ và nhân dân xã Thọ Cường đã đón nhận 147 cháu quê Quảng Bình về nuôi dưỡng, phần lớn các cháu độ tuổi từ 7 đến 9 tuổi, trong đó có một số cháu từ 5 đến 6 tuổi, đa số các cháu mồ côi cha mẹ.

Những cố gắng trên đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, chất lượng và số lượng của đảng viên cũng đã  được nâng lên.

Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết cấp trên, Đảng ủy còn chủ trương, hàng năm, hàng vụ đều gắn công tác kiểm điểm bình xét Đảng viên 4 tốt, với công tác kiểm tra cán bộ, đảng viên trong công việc giao nộp sản phẩm và thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Hàng năm số đảng viên 4 tốt trong Đảng bộ đều đạt trên 70%.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được nâng cao, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành về kinh tế - xã hội và năng lực tổ chức vận động phong trào cách mạng có bước phát triển mới. Sự trưởng thành và lớn mạnh của Đảng bộ đã giúp cho xã Thọ Cường vượt qua những thách thức, khó khăn vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

Cuối năm 1969, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 195 về việc nâng cao sức chiến đấu của Đảng và kết nạp Đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy Triệu Sơn, Đảng bộ Thọ Cường đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, kiểm điểm tự phê bình và phê bình trong Đảng bộ, đồng thời tổ chức cho nhân dân góp ý phê bình cán bộ, đảng viên nhằm làm trong sạch đội ngũ.

Trong lúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang dấy lên phong trào thi đua đạt mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra, cùng với nhân dân Miền Bắc đập tan mọi cuộc chiến tranh leo thang của đế quốc Mỹ, thực sự là hậu phương lớn của Miền Nam. Miền Nam đánh mạnh, thắng lớn để mong một ngày đón Bác Hồ vào thăm, thì được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Trong lễ truy điệu của xã, cả ngàn người, già trẻ, gái trai lệ tuôn trào. Biến đau thương thành hành động, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã gửi quyết tâm thư lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và thầm hứa với Bác, cùng với cả nước, sẽ thực hiện đầy đủ di chúc của Người, góp phần tích cực nhất vào công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, cùng nhân dân Miền Nam anh dũng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, thỏa lòng Bác mong.

3. Đảng bộ tiếp tục lãnh đạo nhân dân vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu ( 1970 -1975).

Thực hiện Chỉ thị của Huyện uỷ Triệu Sơn, ngày 15 tháng 2 năm 1970, Đảng bộ xã Thọ Cường tổ chức Đại hội lần thứ V, nhiệm kì 1970 – 1973. Đại hội đã tiến hành đánh giá kết quả nhiệm kì qua và nêu rõ: nhiệm kỳ 1967-1970, Đảng bộ đã lãnh đạo tổ chức động viên nhân dân vượt mọi khó khăn, giành những thắng lợi mới quan trọng, đời sống nhân dân ổn định, an ninh được giữ vững. Phong trào động viên thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc, Thọ Cường luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời, cũng đã khách quan đánh giá những tồn tại, yếu kém cần khắc phục: phát triển kinh tế chưa ổn định, vẫn còn lệ thuộc quá nhiều về thiên nhiên, kết quả phát triển kinh tế chưa cao, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn...

Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt vụ chiêm xuân rét đậm rét hại gây mạ chết, lúa chết, vụ mùa nắng hạn, lụt úng gây thiệt hại về tài sản và hoa màu cho nhân dân, ngoài ra thời tiết, sâu bệnh gây tác hại không nhỏ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ, sau mưa lũ toàn xã ra quân làm chiến dịch giao thông thủy lợi đào, đắp các tuyến đường giao thông và các công trình thủy lợi nội đồng. Toàn xã đã đào đắp 8.450m3 đất đá, bồi trúc, sửa chữa, nâng cấp những bai đập sung yếu 1.240mđất, lắp đặt thêm 18 ống cống qua đường. Đồng thời UBND xã chỉ đạo các hợp tác xã ông nghiệp chủ động tìm nguồn giống, phân bón và động viên nhân dân chắm dặm chăm sóc lúa, nhờ đó mà sản xuất nông nghiệp có bước chuyển biến. Riêng về lương thực năm 1970 là 985 tấn, tăng 35 tấn tăng hơn năm 1967, làm nghĩa vụ nhà nước 130 tấn. Xã Thọ Cường là xã thuần nông, thu nhập chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp, nhưng sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên nên thu nhập của tập thể và hộ gia đình nông dân không ổn định, cùng với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của đế quốc Mỹ ngày càng quyết liệt gây nhiều khó khăn, ảnh hưởng không tốt đến tình hình phát triển kinh tế ở địa phương.

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, Đại hội, xác định nhiệm vụ tổng quát nhiệm kỳ 1970 – 1973 là: tiếp tục đưa nông nghiệp phát triển toàn diện, tạo ra khối lượng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất phát triển, cả về diện tích, năng xuất và tổng sản lượng. Đẩy mạnh công tác thủy lợi, hoàn chỉnh thủy nông đáp ứng yêu cầu tưới tiêu, chủ động, tích cực chống úng, chống hạn gắn với việc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược, đấu tranh thống nhất nước nhà ở Miền Nam và xây dựng Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tăng cường cơ sở vật chất phúc lợi toàn dân, phấn đấu cuối nhiệm kỳ 1973 đạt  năm trên 1.000 tấn thóc, 2 con lợn/lao động, coi đây là một trong  những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của xã.

Đại hội đã tiến hành bầu Ban chấp hành mới gồm 7 đồng chí. Đồng chí Phạm Thanh Hải được bầu làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Lê Đình Chỉ, làm Chủ tịch uỷ ban hành chính xã, đồng chí Phạm Văn Bổng làm Trực Đảng.

Tin thắng trận từ Miền Nam liên tiếp gửi về làm nức lòng nhân dân cả nước. Ở Miền Bắc dấy lên những cao trào vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vươn lên với khí thế vô cùng mạnh mẽ. Cùng với nông dân Miền Bắc, nông dân Thọ Cường chắc tay cày, tay súng, chống trọi với thiên tai, với khẩu hiệu “Trời làm mất, bắt đất phải đền”, cải tiến kĩ thuật, tăng diện tích gieo trồng, thâm canh, gối vụ...tất cả cho những vụ mùa đại thắng, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Có thể nói, trong những năm tháng chống Mỹ, mỗi đồng lúa, bãi khoai, trường học, nhà trẻ, trạm  xá...đều trở thành chiến hào, mỗi người dân Thọ Cường đều là chiến sĩ.

     Trong sản xuất, thực hiện Nghị quyết Huyện Đảng bộ Triệu Sơn lần thứ III (tháng 10 năm 1970), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ V nhiệm kỳ (1970 – 1973), Đảng uỷ đã đề ra nhiều giải pháp tổ chức thực hiện. Đảng ủy chủ trương đẩy mạnh công tác làm thuỷ lợi, xây dựng các bai đập, cải tạo 2 mương tưới (cồn Thêm, đồng Rú), mạnh dạn đưa các loại giống mới có năng xuất cao vào sản xuất, đồng thời phát động nhân dân khai hoang phục hoá, mở rộng diện tích canh tác, trồng cây phủ kín ở các đồi núi trọc, nâng cao năng xuất cây trồng vật nuôi, nhằm giải quyết dứt điểm nạn thiếu hụt lương thực. Cùng với việc cải tiến quản lý hợp tác xã nông Nghiệp, Đảng uỷ đã chỉ đạo thành lập các đội chuyên (đội trồng cây gây rừng, đội chăn nuôi, đội làm phân xanh…) nhằm tạo ta động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.

    Trong sản xuất nông nghiệp, những biện pháp kĩ thuật mới như: xử lí giống bằng lò thúc mầm, cấy chăng dây, làm cỏ bằng cào cải tiến...tiếp tục phát huy hiệu quả. Đặc biệt phong trào làm bèo hoa dâu đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn. Phong trào phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, đặc biệt là trong tổ chức Đoàn thanh niên, tạo nên một nguồn phân bón đáng kể trong sản xuất nông nghiệp.

Công tác thuỷ lợi cũng được chú trọng, từ năm 1973, theo chủ trương của huyện, Thọ Cường đồng loạt ra quân tôn tạo bờ vùng, bờ thửa, san lấp hố bom để mở rộng diện tích, đắp mới và củng cố hệ thống mương. Trong đợt ra quân này, toàn xã đã đào đắp được hàng ngàn mét khối đất, lắp đặt và xây hàng trăm cống sành, góp phần tích cực giải quyết nước tưới cho nông nghiệp.

Về chăn nuôi, Đảng uỷ trương phát triển cả chăn nuôi tập thể và hộ gia đình xã viên, cả gia súc, gia cầm. Đồng thời duy trì 2 tổ chăn nuôi lợn tập thể ở 2 hợp tác xã, một tổ nuôi cá, một tổ nuôi vịt.

     Về sự nghiệp văn hoá - xã hội, giáo dục - y tế được quan tâm đúng mức, Đảng uỷ thực hiện phương châm tập thể và nhân dân cùng làm. Bằng sự đóng góp của nhân dân và một phần đầu tư của tập thể, xây dựng và nâng cấp trường học, tập thể đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ khám và chữa bệnh cho nhân dân. Các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục, thể thao đã phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị của địa phương.

   Ngành nghề ở địa phương vẫn được Đảng ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo. Sản xuất vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch, ngói tăng từ 3 lò lên 4 lò, nhờ đó mà tỷ lệ làm nhà bằng gạch ngói của các hộ dân ngày một tăng.

  Bị thua đau ở chiến trường Miền Nam, năm 1972 Mỹ cho không quân ồ ạt đánh phá Miền Bắc, với lời tuyên bố huyênh hoang “đưa Miền Bắc Việt Nam trở về thời kì đồ đá” với tính chất, quy mô ác liệt hơn. Quân và dân Miền Bắc đã anh dũng chiến đấu giáng cho bọn giặc trời những đòn sấm sét, mà điển hình là trận Điện Biên phủ trên không ở Hà Nội.

   Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy Thanh Hoá và sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy Triệu Sơn, Đảng ủy Thọ Cường thành lập trung đội phòng không gồm 16 người do đồng chí Nguyễn Thị Hiểu xã đội trưởng phụ trách, trận địa được bố trí ngay trên đỉnh núi Ngọc, thường xuyên phối hợp với đội tên lửa, bộ đội phòng không, sẵn sàng bắn trả máy bay giặc Mỹ khi chúng liều lĩnh bắn phá khu vực sân bay Sao Vàng và vùng phụ cận. Đồng thời hướng dẫn cho nhân dân đào hầm trú ẩn trong mỗi gia đình và khu công cộng.

   Cuối năm 1972, đầu năm 1973, đế quốc Mỹ cho máy bay B52 ném bom bắn phá một số xã thuộc huyện Triệu Sơn như, Minh Châu, Minh Sơn, Hợp Thắng và khu vực đồi Nhơm, gây nhiều tổn thất về người và tài sản của nhân dân. Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, ngay sau khi bị máy bay đánh phá, xã Thọ Cường đã huy động toàn bộ trung đội dân quân cùng với lực lượng Thanh niên xung kích gồm 87 người, đến các xã bị máy bay đánh phá giúp dân khắc phục hậu quả.

Đồng thời trước cảnh nhà tan vườn nát, Đảng ủy đã phát động nhân dân quyên góp được 500 bánh chưng, hàng ngàn cái nem, một nhà 5 gian giúp đồng bào bị nạn và chuyển hàng ngàn cây tre luồng đến đồng bào Quảng Trị.

Tháng 4 năm 1972, huyện Thọ Xuân tổ chức Hội nghị tổng kết thành tích trong chiến đấu và sản xuất, có 115 đại biểu về dự, hội nghị đã biểu dương những tập thể, gia đình và cá nhân có thành tích trong phong trào chăm sóc các gia đình liệt sỹ, thương binh và gia đình bộ đội. Nhờ làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội nên công tác tuyển quân, hàng năm Thọ Cường đều hoàn thành và vượt chỉ tiêu giao. Toàn huyện có 7 xã được tặng thưởng huân chương về thành tích chi viện cho chiến trường trong đó có Thọ Cường.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Triệu Sơn, tháng 2 năm 1973, Đại hội Đảng bộ xã Thọ Cường khóa VI, nhiệm kỳ 1973 - 1976 được tổ chức tại nhà ông Tự ở thôn Quần Tín, Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 9 đồng chí, trong đó Ban Thường vụ 3 đồng chí, đồng chí Lê Đình Chỉ làm Bí thư, đồng chí Ngô Xuân Khính làm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã, đồng chí Trịnh Hồng Vân làm Trực Đảng.

Đại hội đánh giá: nhiệm kỳ vừa qua dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền và sự nỗ lực của nhân dân trong xã, tình hình kinh tế xã hội có bước phát triển so với những năm trước đó. Sản lượng lương thực trung bình đạt 985 tấn/năm, bình quân mỗi năm tăng 42 tấn, nghĩa vụ nhà nước từ 130 tấn lên 150 tấn/năm. Xuất phát từ tình hình đặc điểm của địa phương, Đại hội xác định: Trước hết cần phải quán triệt cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân thấy rõ những khó khăn, thuận lợi làm tốt công tác vận động quần chúng và phát huy tinh thần trách nhiệm của hệ thống chính trị, quyết tâm phấn đấu để đạt mục tiêu 5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động/ha gieo trồng.

Ngay sau Đại hội, Đảng ủy chủ trương thành lập hợp tác xã nông nghiệp toàn xã trên cơ sở sáp nhập 2 hợp tác xã Liên Cường và Minh Sơn, gọi là hợp tác xã Liên Minh. Hợp tác xã Liên Minh có hơn 600 hộ, 1.500  lao động, diện tích canh tác là 240ha, trâu bò 320 con. Đại hội đại biểu xã viên lần đầu tiên đã bầu ông Phạm Thanh Hải làm chủ nhiệm.

Đảng ủy xác định, phải phát triển nông nghiệp toàn diện, coi trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp là 3 ngành sản xuất chính ỏ xã Thọ Cường. Đẩy mạnh chuyên canh cây lúa, thực hiện cách mạng kỹ thuật ở các ngành nghề. Quá trình thực hiện phương hướng đó cũng đồng thời là quá trình tạo nên cơ cấu sản xuất mới, phân công lao động, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm cho việc thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích, xây dựng bờ vùng, đào đắp kênh mương, cải tạo mặt ruộng, sử dụng giống mới, mở rộng đường xá.

Cơ sở vật chất của hợp tác xã nông nghiệp toàn xã lúc này đã có: 3 máy nổ Ba lan; 1 máy tuốt lúa;  3 lò gạch, 2 lò vôi, 2 chuồng trại chăn nuôi, 13 nhà phân, 5 nhà kho, 5.500m2 sân phơi. Trong công tác quản lí, ngoài thực hiện các đội chuyên, hợp tác xã tăng cường công tác 3 khoán, 3 quản, nhằm phát huy hơn nữa tính tích cực của người lao động. Đồng thời tiếp tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện 3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học kỹ thuật, cách mạng về tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng về khoa học kỹ thuật là then chốt(37).

Hưởng ứng chiến dịch “Na sơn nổi gió” do Huyện ủy Triệu Sơn phát động ngày 10 tháng 4 năm 1973, nhằm xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh hệ thống kênh mương, phát triển giao thông nông thôn, phấn đấu đưa Triệu Sơn thành huyện đứng đầu Miền Bắc về công tác hoàn chỉnh thủy nông, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đồng loạt ra quân làm thủy lợi:

Đợt 1: từ ngày mùng 10 đến ngày 25 tháng 4 năm 1973, huy động 350 lao động, tập trung đào đắp, làm mới con mương tiêu dài 700m, rộng 2m từ đồng Lùa xuống nhà Chặm, đập Dân Quân với 7.650m3 đất.

Đợt 2: từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 5 năm 1973, tập trung nạo vét và nâng cấp mương tiêu từ cầu Trược (xóm 2) xuống cầu Phốc với 4.320m3 đất đá phục vụ tiêu úng cho phần lớn diện tích canh tác của xóm 1, 2, 3, 4, 5. Cùng với việc ra quân làm thủy lợi, Đảng ủy còn chủ trương phát động lực lượng còn lại cùng với hội phụ lão và các em học sinh tham gia làm đường giao thông nông thôn.

Đồng hành với chiến dịch “Na Sơn thần tốc” do Huyện ủy Triệu Sơn phát động nhằm đảm bảo thủy nông với khẩu hiệu “sáng, trưa, chiều, tối bốn buổi ra đồng, thần tốc tiến công, không thua kém bạn”, toàn xã đã trở thành công trường làm thủy lợi, đào đắp hệ thống mương tưới, mương tiêu trên các xứ đồng như: Đồng Rú, cồn Thêm, Báy Nạy, cồn Công, cồn Giềng, xây dựng các bai đặp như: Đập Dân Quân, đập Cầu Rào, đập Văn Chỉ với khối lượng đào đắp 12.400m3 đất, đảm bảo tưới tiêu cho hàng trăm héc ta đất canh tác, cùng với việc quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Được sự giúp đỡ và hỗ trợ của huyện Triệu Sơn, Thọ Cường đã xây dựng mới được 3 cầu bê tông là: cầu Quèn, cầu Mau, cầu trước ông Tư Điền, phục vụ việc giao thông đến nay vẫn phát huy tác dụng.

Chiến dịch “Na Sơn nỗi gió” kết thúc, đã để lại cho xã Thọ Cường dấu ấn tích cực, đó là hệ thống mương tiêu, cầu cống bai đập cơ bản hoàn chỉnh phục vụ cho việc thâm canh tăng vụ để đạt năng xuất cao.

Niềm vui chưa lâu thì đến tháng 9 năm 1973, do hậu quả của mưa bảo kéo dài gây lụt úng xảy ra trên diện rộng, nước dâng cao làm 500 ngôi nhà dân, trạm xá, trường học trong huyện bị sụt đỗ, 72% diện tích lúa toàn huyện bị mất trắng. Riêng xã Thọ Cường nước ngập tràn làm vỡ cống ngầm Đê ông Đổng (xóm 2) làm cho một số hộ dân và hoa màu bị ngập nước, 80% diện tích lúa vụ mùa bị mất trắng, phải nhận cứu tế 2 đợt bột mỳ của Nhà nước. Trước tình hình đó, nhằm khắc phục hậu quả do bão lụt gây ra, Huyện ủy Triệu Sơn đã phát động chiến dịch “Na Sơn nổi lửa”, Đảng ủy quyết tâm tìm mọi giải pháp hưởng ứng chiến dịch và đưa xã nhà thoát khỏi khó khăn về kinh tế - xã hội, ngay trong khi còn mưa, bão Đảng ủy đã chủ trương:

Một là: Huy động lực lượng dân quân ở các xóm, cùng với lực lượng nòng cốt ở xóm 2, đem theo các dụng cụ cuốc xẻng, bao bì, cọc tre, xe bò, tập trung vận chuyển đất đá đắp chống tràn khu vực sung yếu thuộc đê ông Đổng.

Hai là: Vận động nhân dân tương trợ giúp đỡ nhau, từng bước vượt qua khó khăn.

Ba là: Đẩy mạnh sản xuất vụ chiêm xuân 1973 – 1974, mạnh dạn đưa giống mới vào sản xuất quyết dành thắng lợi toàn diện.

Bốn là: Đảm bảo đủ phòng học, bàn ghế cho học sinh và giáo viên.

Năm là: Làm tốt công tác vệ sinh phòng bệnh sau bão lụt.

Sáu là: Phát động nhân dân khai hoang phục hóa, trồng cây rau màu ngắn từng bước ổn định cuộc sống.

Bằng sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân trong xã, kết quả đã đơm hoa, kết trái trên tất cả các lĩnh vực ở địa phương.

Về kinh tế: Tập trung phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tạo ra nguồn tích lũy để tái sản xuất, và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Trong sản xuất nông nghiệp, Đảng ủy tập trung chỉ đạo giải quyết những vấn đề cơ bản phục vụ cho thâm canh tăng vụ, như hoàn chỉnh mương tưới, mương tiêu, bai đập giống lúa, khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích canh tác thả bèo hoa dâu, làm phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp, trên 50% diện tích được cấy giống mới.

Cùng với việc cải tiến công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Đảng ủy đã chỉ đạo phân vùng nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất và công tác điều hành được thuận lợi, bao gồm:

Vùng cấy 2 vụ lúa 91ha;

Vùng 2 lúa và 1 màu 25ha;

Vùng 2 mạ và 1 bèo hoa dâu 5ha;

Vùng làm ải 108,5ha;

Vùng làm dầm 25ha.

Công tác chuyên môn hóa trong hợp tác xã nông nghiệp được Đảng ủy tiếp coi trọng. Giai đoạn này hợp tác xã thành lập các đội chuyên:

·     Chuyên làm gạch 45 người

·     Chuyên thợ mộc 30 người

·     Đội  chuyên xe bò kéo 20 người

·     Đội chuyên làm phân 25 người.

Nhờ đó mà tổng sản lượng lương thực năm 1974 đạt 1.345 tấn, tăng 360 tấn so với năm 1970, làm nghĩa vụ Nhà nước 198 tấn. Đàn lợn 1.150 con, trong đó tập thể 350 con, trâu bò 320 con, gạch ngói 4 lò với 1.700. 000 viên/năm.

Đến thời điểm này tuy xã Thọ Cường chưa đạt 5 tấn thóc/ha gieo trồng nhưng là năm được mùa nhất so với trước đây, điều đó đã làm cho Thọ Cường càng vững tâm trên bước đường đi lên. Thắng lợi trên mặt trận sản xuất nông nghiệp là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng trước hết phải kể đên chủ trương hợp nhất hợp tác xã quy mô toàn xã. Từ đây đã xóa đi những manh mún và tạo ra đòn bẩy kinh tế, kích thích người lao động hăng say sản xuất.

Hợp tác xã mua bán được chuyển về nhà ông Tổng Xá (trước đây) do ông Lê Đình Càng làm Chủ nhiệm, quy mô chưa lớn nhưng đã có nhiều cố gắng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, cung ứng và phân phối những mặt hàng tiêu dùng đến từng đội sản xuất và hộ xã viên, đóng vai trò người nội trợ tích cực trong việc đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho nhân dân.

Đảng ủy chủ trương chuyển các lớp học từ nơi sơ tán về nơi trường chính, tổ chức khai hoang, phục hóa, san ghềnh, lấp trủng, quy tụ mồ mã, cải tạo mặt đường, xây dựng hệ thống mương máng, bờ vùng, bờ thửa thực hiện thẳng đường, vuông ruộng.

Về văn hóa xã hội: Đảng ủy thực hiện phương châm tập thể và nhân dân cùng làm, xã đã đầu tư hàng chục triệu đồng, cùng với sự đóng góp của nhân dân để xây dựng nâng cấp trường học và trạm y tế, đầu tư mua sắm thêm bàn ghế, đồ dùng dạy học, trang thiết bị phục vụ việc khám và chữa bệnh cho nhân dân.

Lúc này mạng lưới y tế đều được hình thành đến các xóm có cán bộ hộ lý chuyên trách, trạm y tế đã tích cực vận động nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh “ăn chín uống sôi”, duy trì chế độ tiêm chủng thường xuyên, trạm trưởng vẫn là ông Phạm Khắc Đài.

Về Quốc phòng, an ninh: Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc từ cơ sở, tăng cường sức mạnh của dân quân và công an ngay từ các xóm, kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị an toàn xã hội trên địa bàn.

Về xây dựng Đảng: Đảng ủy đã tiến hành đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng lãng phí và từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Bồi dưỡng và kết nạp 21 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên trong Đảng bộ lên 131 đồng chí. Đồng thời duy trì tốt chế độ sinh hoạt chi bộ để giáo dục, bồi dưỡng đảng viên phát huy tinh thần phê bình tự phê bình, tổ chức cho nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất.

Mười  năm qua (1965 - 1975) là một chặng đường lịch sử vẻ vang, Đảng bộ Thọ Cường từ 68 Đảng viên (1961), lên 131 Đảng viên năm (1975), sinh hoạt trong hệ thống tổ chức chặt chẻ từ xã xuống xóm, đã tổ chức lãnh đạo nhân dân khắc phục khó khăn, đẩy lùi thiên tai địch họa, chung lưng đấu cật, dũng cảm, kiên cường, thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, vừa sản xuất vừa sẳn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, vừa chi viện sức người sức của cho tuyền tuyến, góp phần giải phóng Miển Nam, thống nhất  nước nhà. Đó là những điều kiện cơ bản thúc đẩy sự nghiệp cách mạng xã nhà tiếp tục phát triển.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã kết thúc 21 năm chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, cả nước hòa bình độc lập thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với cả nước Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường tiến hành khắc phụ hậu quả chiến tranh và thiên tai nhằm xây dựng lại quê hương, đất nước.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức, trong giai đoạn đầy cam go, thử thách của cuộc chiến  tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, phẩm chất cách mạng của những người cộng sản ở Thọ Cường càng ngời sáng. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân anh dũng vượt qua mọi khó khăn thử thách, góp phần xứng đáng vào chiến công chung của toàn dân tộc. Trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại ấy, toàn xã đã có 1.253 người đi bộ đội, 139 người vào thanh niên xung phong, 92 thanh niên tình nguyện, 81 dân công hỏa tuyến, 23 người tham gia xe đạp thồ, đóng góp hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm cho Nhà nước. Nhiều gia đình 2,3 thế hệ nối tiếp nhau đi chiến đấu như gia đình bà Lê Thị Vọng xóm 8, các gia đình có 3 con liệt sỹ và một con độc nhất là liệt sỹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng như: bà ….(họ) Ngó, bà ….Phương, bà ….Nẩm. Năm 2014 tiếp tục được phong tặng 2 người: mẹ Lê Thị Vọng, mẹ Nguyễn Thị Tâm, truy tặng 2 mẹ, mẹ Lê Thị Mâu và mẹ Lê Thị Phượng  cho đến tháng 10 năm 2014 xã Thọ Cường đã được Nhà nước phong tặng, truy tặng 7 mẹ Việt Nam anh hùng và đang tiếp tục đề nghị truy tặng 3 mẹ Việt nam anh hùng theo hướng dẩn.

Do có công lao đóng góp nên Đảng bộ và Nhân dân xã nhà vinh dự được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Quân công, 8 Huân chương Quyết thắng, 26 Huân chương Giải phóng, 238 Bằng gia đình vẻ vang. Người ở lại hậu phương thi đua làm việc bằng hai, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, xây dựng Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Với khẩu hiệu “ thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “ Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường phấn đấu, nỗ lực hết mình, xứng đáng là những người ở hậu phương lớn của tiền tuyến lớn. Qua gian lao, tổ chức Đảng ở Thọ Cường từng bước trưởng thành lãnh đạo các phong trào cách mạng ở địa phương đi đến thắng lợi. Đó là hành trang quý để Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường viết tiếp những trang sử mới trên chặng đường đi tới.

 

Chương IV

ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN NƯỚC NHÀ HOÀ BÌNH, THỐNG NHẤT (1975- 1986)

 

I.   ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

5.              NĂM LẦN THỨ HAI (1976 - 1980)

Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, kết thúc ba mươi năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân gần một thế kỉ trên đất nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Ngày 29 tháng 7 năm 1975, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 24 về nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân cả nước, cuối năm 1975, Hội nghị hiệp thương giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền nam Việt nam đã thống nhất tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước.

Ngày 2 tháng 4 năm 1976 cả nước nô nức đi bầu cử Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa thống nhất, đây là ngày hội non sông của cả dân tộc Việt Nam sau 21 năm bị chia cắt.

Trong không khí toàn dân ta đang hăng hái lao động sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, xây dựng quê hương giàu mạnh, thì Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 12 năm 1976. Đây là Đại hội có ý nghĩa lịch sử quan trọng, diễn ra trong điều kiện nước nhà hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối.

Đại hội đã phân tích tình hình mọi mặt của đất nước và xác định đường lối chung của cách mạng nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học kĩ thuật, cách mạng về tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kĩ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kì tiến lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng sản  xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa (38)”.Về nông nghiệp, Nghị quyết của Đại hội chỉ rõ: “ Phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nhằm sớm thoả mãn nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội. Coi trọng cả 3 mặt, thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích”. (39)

Đại hội IV của Đảng thành công đã cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường bước vào thực hiện kế hoạch Đại hội với khí thế mới.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, Đại hội lần thứ VIII của  Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và Nghị quyết của Đảng bộ huyện Triệu Sơn. Đảng bộ và nhân dân xã Thọ Cường ngàn người như một bước vào thời kỳ mới quyết tâm giành thắng lợi vượt bậc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa -  xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng Đảng.

Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã xác định nhiệm vụ hàng đầu vừa là ý nghĩa trước mắt, vừa là chiến lược lâu dài, là “phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giải quyết cấp bách và yêu cầu lương thực, thực phẩm, từng bước ổn đình đời sống nhân dân sau chiến tranh”.

Theo sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy Triệu Sơn, Đảng ủy xã nhanh chóng chuyển hướng sang hướng tập trung phát triển kinh tế chủ yếu giai đoạn này là: khai hoang mở rộng diện tích, hoàn chỉnh thủy nông trên đồng ruộng, thâm canh tăng năng suất.

Xã thành lập đội 202 gồm 72 lao động, chuyên trách về thủy lợi, làm nòng cốt cho các chiến dịch ở trên các công trường của tỉnh, huyện và địa phương, nổi bật là các công trình lớn như: công trình sông Lý, công trình sông Mực...

Phát huy thắng lợi của các chiến dịch “ Na Sơn nổi gió”, “ Na Sơn nổi lửa”, “ Na Sơn thần tốc”, Đảng bộ và nhân dân toàn xã hưởng ứng chiến dịch “Na Sơn đại nghĩa” do Huyện ủy Triệu Sơn phát động. Nhiệm vụ trọng tâm của chiến dịch là: tập trung mọi lực lượng sản xuất vụ chiêm xuân 1976 thắng lợi.

Trong vụ chiêm xuân năm 1976, toàn xã đã cày ải 80% diện tích canh tác sản xuất, 950 tấn phân hữu cơ, thả bèo hoa dâu 150 ha, đồng thời làm tốt công tác tưới tiêu, áp dụng khoa học tạo ra năng xuất và sản lượng cao.

Thực hiện chiến dịch: “ Na Sơn đại nghĩa”, Đảng bộ đã tổ chức hàng trăm lao động tiến quân lên đồi rừng Thọ Sơn phát rừng và đã trồng được 20 ha ngô, giải quyết một phần lương thực cho nhân dân trong lúc khó khăn .

Các chiến dịch "Na sơn nổi gió” “ Na sơn thần tốc”, “Na sơn nổ lửa”, “Na Sơn đại nghĩa” kết thúc đã mang lại cho Đảng bộ và nhân dân  xã nhà một vụ chiêm xuân bội thu: năng xuất đạt 5 tấn/ha, tổng sản lượng đạt 1.581 tấn so với cùng kỳ các năm trước tăng 80 tấn, làm nghĩa vụ nhà nước 120 tấn.

Thắng lợi của vụ chiêm xuân 1975 - 1976 là thắng lợi của tinh thần dám nghĩ, dám làm, ý thức trách nhiệm trước Đảng trước nhân dân, thắng lợi của chủ trương giải pháp và phương thức tổ chức chỉ đạo của Đảng bộ mà đứng đầu là Đảng ủy. Đó là sự thắng lợi đoàn kết thống nhất cùng với sự lao động sáng tạo vì sự nghiệp giàu mạnh của quê hương, ấm no hạnh phúc của mỗi gia đình.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Triệu Sơn, ngày 25 tháng 5 năm 1976. Đảng bộ xã Thọ Cường tiến hành đại hội Đảng bộ lần thứ VII, nhiệm kỳ 1976 -1979 với số 131đảng viên về dự (trong đó có 112 đảng viên nam, 19 đảng viên nữ). Đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành gồm 9 đồng chí, bầu Ban Thường vụ gồm 3 đồng chí, đồng chí Ngô Xuân Khính làm Bí thư, đồng chí Lê Đình Lưu làm Chủ tịch UBND, đồng chí Lê Văn Long làm Trực Đảng.(40)

Đại hội đánh giá gần 2 năm hàn gắn vết thương chiến tranh, đi sâu phân tích những nguyên nhân dẫn đến thành công và yếu kém trong nhiệm kì trước, rút ra bài học kinh nghiệm để lãnh đạo nhân dân trong giai đoạn cách mạng mới. Đại hội xác định mục tiêu tổng quát của giai đoạn mới là: Đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tiếp tục xây dựng và củng cố hợp tác xã nông nghiệp toàn xã; Sắp xếp lại lao động theo hướng chuyên môn hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các đội chuyên; Đẩy mạnh khai hoang, phục hoá, tăng nhanh diện tích gieo trồng; Phát động phong trào quần chúng để đẩy mạnh thuỷ lợi, đảm bảo tưới tiêu chủ động; Tập trung xây dựng và phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính; Nâng cao chất lượng 3 mục tiêu  trong nông nghiệp: phấn đấu đạt 5 tấn thóc /ha; 2 con lợn /ha; 1 lao động /ha gieo trồng; Phát triển ngành nghề, lâm nghiệp, từng bước xoá bỏ cơ cấu nhỏ lẻ, phân tán, tổ chức theo hướng tập trung; Nâng cao chất lượng văn hoá, y tế, giáo dục; Không ngừng củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững trật tự xã hội ở địa phương và góp phần bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 Đại hội xác định cơ cấu kinh tế của Thọ Cường là: nông - lâm - tiểu thủ công nghiệp, trong đó phát triển nông nghiệp có năng xuất cao về lúa và rau màu, cây lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá, là trọng tâm; xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã như: lúa ngô, khoai, sắn, hoa màu, rau đậu; cây ăn quả gồm: mía, rứa, chanh, ổi, bưởi…

Đối với lâm nghiệp: tranh thủ những đồi bãi hiện có, phát động nhân dân trồng cây lấy gỗ như: bạch đàn, xà cừ, cây ăn quả để phủ kín đất trống đồi núi trọc.

Về tiểu thủ công nghiệp: đẩy mạnh sản xuất gạch ngói, nung vôi, sản xuất nông cụ, sản xuất bàn ghế, giường, tủ phục vụ công cuộc tái thiết quê hương, phục vụ đồi sống nhân dân.

Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa ở địa phương.

Đảng bộ xác định, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội quốc phòng - an ninh, cần phải nâng cao năng lực quản lý, điều hành, tổ chúc vận động quần chúng và phát huy tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chuyên chính vô sản ở địa phương.

Cần phải làm cho cán bộ, đảng viên xác định đầy đủ chức năng nhiệm vụ, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhằm không ngừng nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn, phải thông qua phong trào cách mạng để rèn luyện cán bộ đảng viên, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ, lựa chọn quần chúng ưu tú kết nạp vào Đảng.

Triển khai Nghị quyết Đảng bộ lần thứ VII, phát huy thắng lợi của vụ chiêm xuân 1975 - 1976, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường tiến quân vào sản xuất nông nghiệp với khí thế mới. Cấp ủy chỉ đạo tập trung cải tiến quản lý hợp tác xã theo Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, tổ chức lại sản xuất theo Chỉ thị 208 của Ban bí thư Trung ương Đảng.

Để từng bước đưa nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của chỉ thị 208-TC/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thọ Cường đã tiến hành nhiều biện pháp quan trọng để phát triển sản xuất. Giai đoạn này, Thọ Cường tiếp tục đẩy mạnh khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích canh tác, vận động nhân dân quy tụ mồ mã về nơi quy định của xã ở Giếng Lươn mở rộng diện tích được 4 ha, thuận lợi cho thâm canh cây lúa; ứng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh năng xuất mà bước đột phá là đưa bộ giống mới năng suất cao vào sản xuất đài trà, chuyển diện tích 2 lúa thành 2 lúa một màu, đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính thứ 3 trong năm.

Việc xây dựng các đội, tổ chuyên đã được hình thành từ các năm trước, song hiệu quả hoạt động còn thấp, nay phải tập trung sắp xếp lại lao động theo hướng chuyên môn hoá. Đảng bộ quán triệt quan điểm của Đảng: “Muốn có năng suất cao, phải chuyên môn hoá lao động, bởi vì chỉ có chuyên môn hoá lao động mới đi sâu được vào kĩ thuật canh tác và tạo nên những người lao động có tay nghề thành thạo, mới có điều kiện cải tiến công cụ sản xuất và kĩ thuật sản xuất”(41). Trong hợp tác xã trước hết phải củng cố, ổn định các đội cơ bản về trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ lợi.... đồng thời nâng cao hoạt động của các đội chuyên khâu như: giống, bảo vệ thực vật..

Hợp tác xã đã tiến hành sắp xếp lại định mức lao động cho từng ngành nghề, đảm bảo công bằng, hợp lí để khuyến khích lao động nặng nhọc, lao động có kĩ thuật; khuyến khích việc đưa kĩ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, khắc phục dần các lề thói sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán do quản lí không tập trung, đảm bảo quyền làm chủ tập thể của mọi người lao động, công tác khoán cũng được coi là một khâu then chốt.

Đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính, phát triển đa dạng ngành nghề trong nông nghiệp cũng là nội dung quan trọng của Chỉ thị 208 nhằm đưa nông nghiệp phát triển theo hướng sản suất lớn xã hội chủ nghĩa. Hợp tác xã nông nghiệp củng cố trại chăn nuôi, xây dựng chuồng trại theo mô hình K59, nông cao hiệu quả sản xuất của đội chuyên chăn nuôi, đồng thời khuyến khích chăn nuôi hộ gia đình.

Đất nước chuyển mình sang giai đoạn mới, đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành nghề phải có những chuyển đổi tương ứng, phù hợp. Đảng bộ xác định, với điều kiện đặc thù của Thọ Cường, phải tập trung nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, phải làm cho sản phẩm nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa. Muốn thế, phải phát huy tiềm lực sẵn có của địa phương, điểm mấu chốt là, ra sức cải tiến quản lí trong hợp tác xã nông nghiệp, đồng thời phải tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân.

Thực tiễn cách mạng ở địa phương trong những năm tháng kháng chiến đã cho thấy vai trò to lớn của của các phong trào quần chúng. Giai đoạn mới, “trong điều kiện cơ sở vất chất của chúng ta hầu như chưa có gì thì sức mạnh to lớn nhất là sức mạnh làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Do đó đi ngay vào làm chủ tập thể, trước hết là làm chủ đất đai và lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là vấn đề có tính quy luật của nước ta”(42).. Nhận thức rõ điều này, Đảng bộ đã chỉ đạo cho các tổ chức có những phương hướng và hình thức tổ chức phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Hợp tác xã làm tốt công tác 3 khoán, 3 quản, thực hiện công bằng, dân chủ, công khai trong công tác khoán và phân phối sản phẩm. Các tổ chức đoàn thể tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của đoàn viên, hội viên, phát động những phong trào thi đua, nhằm phát huy sức mạnh của tổ chức mình.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Tỉnh uỷ Thanh Hoá học tập hợp tác xã nông nghiệp Định Công, các đoàn thể trong xã đẩy mạnh phong trào xây dựng “cánh đồng năm tấn”, toàn xã đã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi lôi cuốn mọi tần lớp nhân dân tham gia. Các phong trào, hoàn chỉnh thuỷ nông, làm phân bón, nuôi bèo hoa dâu, nhận ruộng cao sản...thường xuyên được phát động, nhằm tạo ra năng suất lao động cao.

Việc đưa các giống mới có năng suất cao và bố trí cây trồng hợp lí theo từng mùa vụ cũng là yêu cầu quan trọng trong sản suất nông nghiệp. Căn cứ vào điều kiện cụ thể, như khả năng tưới nước, phân bón, chất đất, hợp tác xã chủ trương: vụ chiêm xuân, gieo cấy các giống chủ lực là nông nghiệp 8, giống 388, chân châu lùn; vụ mùa, giống chủ lực là nông nghiệp 22, IP1. Nhờ tiến hành nhiều biện pháp các chỉ tiêu diện tích năng suất, sản lượng đều tăng.

Tuy nhiên, quá trình sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường là quá trình vật lộn với thiên tai, lũ lụt, hạn hán. Năm 1978 rồi năm 1980 bị lũ lụt, diện tích lúa bị mất trắng và thiệt hại nặng lên đến hơn 70%, các chỉ tiêu trong nông nghiệp (năng suất lúa, chăn nuôi, lao động trên mỗi héc ta gieo trồng) đều không đạt.

Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy, ngày 10 tháng 4 năm 1979, Đảng bộ Thọ Cường tiến hành Đại hội lần thứ VIII, nhiệm kỳ 1979 - 1982 . Về dự Đại hội có 173 đồng chí trong đó nam 152 đồng chí, nữ 21đồng chí. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành gồm 9 đồng chí. Đồng chí Lê Đình Lưu được bầu làm bí thư Đảng bộ, đồng chí Lê Thanh Toàn làm Chủ tịch UBND, đồng chí Lê Văn Dần làm Trực Đảng.

 Đại hội đánh giá cao các mặt hoạt động của Đảng bộ và phong trào cách mạng quần chúng nhân dân trong nhiệm kỳ qua, rút ra nguyên nhân thành công và nguyên nhân hạn chế, đề ra phương hướng nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới đó là:

- Về sản xuất nông nghiệp, phải tạo ra sự cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi , tăng nhanh diện tích vụ đông giải quyết cơ bản về lương thực, thực phẩm đáp ứng yêu cầu của nhân dân địa phương, hoàn thành vượt mức nghĩa vụ đối với Nhà nước tạo ra khối lượng hàng hóa không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.

- Về quốc phòng an ninh, Đảng bộ và nhân dân phải đề cao cảnh giác xây dựng chiến tranh nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng dân quân mạnh, xây dựng tuyến phòng thủ, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân hàng năm. Thực hiện tốt giữa phát triển kinh tế văn hóa, xã hội gắn với củng cố an ninh - quốc phòng.

Nghị quyết đại hội chỉ rõ: Nhiệm vụ kinh tế trọng tâm vẫn là tập trung phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giải quyết cơ bản nạn thiếu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng sau chiến tranh. Ổn định đời sống nhân dân tạo ra nguồn tích lũy tái sản xuất và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Trong sản xuất Nông nghiệp, Đảng ủy đã chú trọng chỉ đạo giải quyết những vấn đề cơ bản phục vụ cho thâm canh tăng vụ đó là: hoàn chỉnh thủy nông cho 3 vùng đồng lớn (đồng Rú; cồn Thêm; Bái Nạy) hoàn thiện bờ vùng bờ thửa, mương tưới, mương tiêu; đưa giống có năng xuất cao vào thâm canh; thả bèo hoa dâu tăng cường phân hữu cơ, cày ải, phơi đất; xây dựng các bai đập ở đồng sâu để phục vụ sản xuất Nông nghiệp.

Hợp tác xã tích cực cải tiến công tác quản lý, khoán công, khoản việc trong định mức kinh tế kỹ thuật công tác tài vụ ăn chia. Phân phối công bằng rành mạch hơn, tình trạng chọn việc dễ, bỏ việc khó được khắc phục. Tinh thần làm chủ tập thể của xã viên được nâng cao.

Mặc dù điều kiện thời tiết khắc nghiệt bão lụt, hạn hán diễn ra liên tục trong nhiều năm xã Thọ Cường vẫn đạt tổng sản lượng lương thực từ 1.094 tấn đến 1.200 tấn. Bình quân lương thực đầu người 240 kg đến 280 kg/năm. Làm nghĩa vụ Nhà nước 150 tấn, năm thấp nhất 80 tấn.

Về chăn nuôi, được Huyện ủy Triệu Sơn quan tâm sâu sát, Đảng bộ Thọ Cường vận dụng Nghị quyết VI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thúc đẩy phát triển chăn nuôi, chú trọng chăn nuôi lợn lai kinh tế cho năng xuất cao. Đến năm 1979, tổng đàn lợn có 926 con, tăng 5 lần so với năm 1976, trong đó: đàn lợn nái đã có 141 con, đàn lợn lai kinh tế chiếm 25%. Tổng đàn trâu bò có 299 con, đàn gia súc phát triển nhanh, riêng đàn vịt có 3.200 con, trong đó có 1.000 con vịt gốc, hàng năm có 3 đến 6 tấn thịt và 6 vạn quả trứng. Phong trào nuôi cá nước ngọt ở ao hồ cũng có sản lượng khá lớn, đủ cung cấp thực phẩm cho nhân dân trong ngày lễ, tết.

Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp trong những năm 1975 trở về trước phát triển chậm. Sau chiến tranh ngành tiểu thủ công nghiệp được khởi sắc, năm 1977 sản xuất được 1,2 triệu viên gạch, 50 vạn ngói, năm 1979 sản xuất 1,4 triệu viên gạch, 1 triệu viên ngói, đáp ứng yêu cầu xây dựng cho nhân dân trong xã. Giao thông nông thôn được đẩy mạnh, hệ thống giao thông từng thôn được mở rộng. Xây dựng hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập thể, sân phơi nhà kho, trụ sở hợp tác xã, trụ sở Ủy ban nhân dân xã, trường học, cấp I, cấp II, trạm y tế.

Văn hoá xã hội, hưởng ứng phong trào đồng khởi thi đua thực hiện Nghị quyết 3 của Ban Chấp hành trung ương Đảng (khoá IV) về xây dựng nền văn hoá mới, Đảng bộ đã chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể phát động rộng rãi, sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân.

Giai đoạn này, các mặt văn hoá xã hội có những bước phát triển mạnh. Nhận thức vai trò to lớn của công tác tư tưởng trong việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ đã thông qua các tổ chức như Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, Hội Phụ nữ...vận động xây dựng nếp sống mới. Phong trào văn nghệ, thể dục thể thao được đẩy mạnh. Đoàn Thanh niên đi đầu trong việc thực hiện đám cưới tiết kiệm, văn minh, tổ chức tại hội trường, không ăn uống linh đình, tốn kém.

Chất lượng giáo dục của các nhà trường tiếp tục được nâng lên. Công tác y tế tập trung chỉ đạo 3 công trình vệ sinh với mục tiêu: mỗi hộ có 1 nhà vệ sinh 2 ngăn, trường học có nhà vệ sinh bán tự hoại; từ 2 - 3 gia đình có 1 giếng nước, trường học, trạm xã phải có đủ nước dùng; mỗi giếng có 1 nhà tắm. Các đội sản xuất thành lập tổ lo vật liệu, kĩ thuật, giúp các gia đình xây dựng công trình vệ sinh. Toàn xã thành lập một ban, phối hợp với các đội vận chuyển, đội xây dựng, tiến hành đúc nắp, xây dựng phần dưới nhà vệ sinh... Các Chi bộ đều ra nghị quyết về công tác này, đảng viên phải hoàn thành công trình vệ sinh để làm gương cho quần chúng noi theo.

Về quốc phòng - an ninh: Đất nước hòa bình chưa được bao lâu, thì cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ. Ngày 27 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc ngang nhiên đưa quân đánh chiếm 6 tỉnh biên giới phía Bắc, cuộc chiến tranh biên giới bùng nổ. Thực hiện lệnh tổng động viên của Chủ Chủ tịch nước,  một lần nữa hàng trăm thanh niên Thọ Cường lại tình nguyện lê đường cầm súng, đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc. Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường lại chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến, vừa phát triển kinh tế vừa củng cố quốc phòng -  an ninh sẵn sàng chiến đấu. Luôn luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, tiến hành xây dựng các tuyến phòng thủ, các cụm chiến đấu.

Hưởng ứng phong trào tòng quân bảo vệ Tổ quốc, Đảng bộ và nhân dân trong xã luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Năm 1976 tiễn đưa 30 anh em thanh niên lên đường ngập ngũ đạt 104%, năm 1978 đạt 100% , năm 1979 đạt 112%, năm 1980 đạt 109% kế hoạch. Cùng với công tác tuyển quân Thọ Cường đã huy động hàng trăm lao động tham gia xây dựng công trình thủy lợi của tỉnh và huyện và luôn hoàn thành chỉ tiêu trên giao. Riêng công trường Thống Nhất Quảng Châu, dân công trong xã đào đắp được khối lượng 5.000m3, vượt kế hoạch trên giao 110%.

Công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cũng luôn đạt kết quả cao. Toàn xã thành lập một đại đội, mỗi đội sản xuất thành lập 1 trung đội, thường xuyên luyện tập và sẵn sàng chiến đấu. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, hoạt động của địa phương chuyển sang tình trạng thời chiến. Các phương án chiến đấu, sơ tán nơi làm việc của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, sơ tán dân, toàn dân sống trong kiều kiện cảnh giác cao.

Gắn chặt phát triển kinh tế với xây dựng quốc phòng toàn dân, lực lượng dân quân vừa luyện tập sẵn sàng chiến đấu, giữ vững an ninh thôn xóm, trật tự xã hội, vừa là lực lượng xung kích trên mặt trận sản xuất.

Công an tổ chức triệt phá các tổ nhóm trộm cắp tài sản của công dân và của tập thể, tổ chức quản lý  đối tượng có tiền án tiền sự, liên quan đến an ninh, chính trị, xây dựng phương án bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân dân, phát động phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, ngăn chặn âm mưu gây chiến tranh phá hoại của các thế lực thù địch.

Về công tác Đảng: Để đảm bảo Nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực sinh động, Đảng bộ tích cực phấn đấu nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện của cả hệ thống chính trị. Quán triệt phương châm xây dựng Đảng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Nghị quyết 23 của Trung ương Đảng, Đảng ủy đã tăng cường công tác chính trị tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục đường lối chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; giáo dục cho Đảng viên nâng cao ý thức tự lực, tự cường và tinh thần trách nhiệm, uốn nắn kịp thời những quan đểm lệch lạc, tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và toàn xã hội.

Để nâng cao trình độ công tác cho cán bộ Đảng viên, địa phương đã thường xuyên cử cán bộ đi đào tạo ngắn và dài hạn ở tỉnh và huyện, kể cả học nghiệp vụ lý luận, bổ túc văn hóa cấp II, cấp III. Năm 1977 đã hoàn thành lớp cơ sở lý luận cho 55 Đảng viên.

Thực hiện chỉ thị 72, 81, 83 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và sự lãnh đạo của Huyện ủy Triệu Sơn. Đảng ủy tiến hành tự phê và phê bình trước Đảng, trước nhân dân, thông qua đó tiến hành phân loại Đảng viên. Qua hoạt động này, ý chí phấn đấu của cán bộ đảng viên được nâng lên rõ rệt, các tổ chức Đảng phát huy được vai trò lãnh đạo, hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả, có chất lượng. Công tác kiểm tra kỷ luật của Đảng được quan tâm đúng mức, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên, thoái hóa, biến chất. Đồng thời làm tốt công tác phát triển Đảng, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú kết nạp vào hàng ngũ của Đảng, nhằm thường xuyên tăng cường lực lượng, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị luôn phát triển ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng.

Năm năm thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, lại phải đối đầu cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, chiến tranh biên giới, nhưng Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã cùng nhân dân cả nước, đẩy lùi mọi khó khăn thách thức, khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, tạo ra giá trị vật chất và tinh thần to lớn, tiếp tục xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc. Đó là những điều kiện cơ bản thúc đẩy sự nghiệp cách mạng xã nhà tiếp tục phát triển. Có được kết quả đáng tự hào đó, trước hết là nhờ sự lãnh đạo của Đảng uỷ, của các chi bộ và các đồng chí đảng viên, sự chỉ đạo cụ thể của các cấp chính quyền, tinh thần cần cù sáng tạo của nhân dân lao động, đã tạo nên một khí thế thi đua sôi nổi trong  Đảng bộ và nhân dân. Đó là những bài học rất quý giá trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Đảng bộ.

II. ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

                                       5 NĂM 1981-1985

Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần này trong điều kiện xã hội có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Những thành tựu đã đạt được trong kế hoạch trước đã tạo tiền đề hết sức quan trọng để Thọ Cường bước tiếp trên con đường xây dựng quê hương ấm no, giàu mạnh. Trong sản xuất nông nghiệp, việc đột phá vào khâu thuỷ lợi, mở rộng diện tích đi đôi với ứng dụng khoa học, kĩ thuật trong thâm canh đã mở ra một hướng đi mới trong việc chế ngự thiên tai, bảo vệ mùa màng và nâng cao năng suất, sản lượng lúa. Sản xuất vụ đông đã có bước tiến đáng kể, chăn nuôi phát triển, đời sống văn hoá, xã hội ổn định... Điều đó chứng tỏ rằng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã được vận dụng linh hoạt trong thực tế ở Thọ Cường. Những thành tựu trong 5 năm qua còn khẳng định, nếu biết động viên khơi gợi cổ vũ lòng nhiệt tình hăng hái của mọi tầng lớp nhân dân, sẽ tạo nên những động lực to lớn góp phần vào thắng lợi trong các phong trào cách mạng ở địa phương.

Tuy nhiên, nhìn ở tầm vĩ mô, “ Tình hình khủng hoảng về kinh tế - xã hội nước ta đã xuất hiện”, đặc biệt “trên mặt trận kinh tế, đất nước ta đang đứng trước nhiều vấn đề gay gắt...”. “Những khó khăn đó, trước hết là do nguồn gốc sâu xa của tình hình đất nước. Song mặt khác khó khăn còn do khuyết điểm sai lầm về lãnh đạo, quản lí xã hội gây ra”.(43) Trong quá trình thực hiện, chúng ta “đã nóng vội, bảo thủ, trì trệ, chưa nắm vững quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, chưa nắm vững nhiệm vụ hàng đầu là ra sức phát triển nông nghiệp”(44).

Đứng trước tình hình khó khăn về kinh tế - xã hội, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6, khoá IV đã xác định: “phải làm cho sản xuất bung ra”. Liên tiếp các Hội nghị sau đó, Trung ương đã bàn các biện pháp thúc đẩy sản xuất phát triển. Chính phủ có những quyết định kịp thời bãi bỏ biện pháp ngăn sông, cấm chợ; quyết định khuyến khích sản xuất phát triển, đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (tháng 12 -1980), đã quyết định mở rộng việc thực hiện khoán và hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Ngày 13 tháng 1 năm 1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 100-CT/TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (nhân dân quen gọi là khoán 100).

Có thể nói, Chỉ thị 100 đã mở ra một hướng đi mới, một bước ngoặt trong sản xuất nông nghiệp của nước ta. Tuy nhiên, đây là một vấn đề mới, đòi hỏi các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải tiến hành một cách khoa học, cẩn trọng và dân chủ.

Để thực hiện hiệu quả Chỉ thị 100, Đảng bộ chủ trương: việc tiến hành khoán theo chỉ thị 100 phải đảm bảo các nguyên tắc, hợp tác xã nông nghiệp phải quản lí chặt chẽ và có hiệu quả các tư liệu sản xuất như: ruộng đất, sức kéo, phân bón...; hợp tác xã phải tổ chức tốt việc quản lí và điều hành lao động, trên cơ sở phát huy sự chủ động, sáng tạo của người lao động, làm cho mọi người gắn bó với kết quả lao động; hợp tác xã phải có quy hoạch và kế hoạch, phù hợp với quy vùng sản xuất, có định mức kinh tế - kĩ thuật ngày càng tiến bộ; hợp tác xã phải nắm được sản phẩm, phân phối sản phẩm hài hoà 3 lợi ích (lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích người lao động); phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, tránh gò ép trái với nguyên tắc “ tự nguyện, cùng có lợi, quản lí dân chủ”; phương hướng chủ yếu để cải tiến công tác khoán trong hợp tác xã nông nghiệp là: khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của người lao động và làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất, thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng.

Trong quá trình tiến hành khoán, một trong những khâu quan trọng là xác định mức khoán một cách hợp lí. Để làm tốt điều này, Đảng bộ đã chỉ đạo cho hợp tác xã và đội sản xuất phải căn cứ vào diện tích, độ phì, điều kiện canh tác của từng cánh đồng, từng thửa ruộng, tổ chức cho xã viên thảo luận dân chủ, công khai, mức khoán hợp lí vừa bảo đảm thu nhập của xã viên, vừa đảm bảo lợi ích của tập thể.

Nhờ thực hiện khoán mới, sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường có bước nhảy vọt, năm 1981, tổng sản lượng lương thực đạt 1.728 tấn, vượt kế hoạch 60 tấn, tăng hơn năm 1978 là 528 tấn, đời sống được nâng lên, nhân dân phấn khởi hăng say sản xuất.

Chỉ thị 100 của Ban chấp hành Trung ương Đảng như một luồng gió mới thổi về làm tươi thắm lại làng quê vốn còn bộn bề gian khó do chiến tranh để lại. Tuy nhiên, để chủ trương đúng đắn của Đảng trở thành hiện thực sinh động ở địa phương không phải là việc dễ dàng. Trong quá trình thực hiện, Đảng bộ và chính quyền đã tích lũy được những kinh nghiệm quý giá về chỉ đạo, quản lí trong cơ chế khoán mới, do vậy đã khơi dậy được tiềm lực to lớn trong nhân dân, phát huy được những thuận lợi, hạn chế khó khăn đưa sự nghiệp cách mạng trên quê hương Thọ Cường tiến lên.

Từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1982, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V được tổ chức tại Hà Nội. Về nông nghiệp, Đại hội xác định: “Trong 5 năm 1981-1985, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên xã hội chủ nghĩa”.(45) Có thể nói, sự chuyển hướng chiến lược về phát triển kinh tế của Đảng là tiền đề hết sức quan trọng để nông nghiệp phát triển. Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường vốn sáng tạo, cần cù, nay có cơ chế mới càng hăng say lao động sản xuất.

Trong không khí toàn dân đang ra sức thi đua chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, phấn khởi vì những mùa vụ bội thu do khoán 100 mang lại, thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, tháng 5 năm 1982, Đảng bộ xã Thọ Cường tiến hành Đại hội lần thứ IX, nhiệm kì 1982 – 1985, có 158 đảng viên trong Đảng bộ về dự. Đại hội đã đi sâu phân tích tình hình thực hiện khoán theo chỉ thị 100 và nhận thấy: sản xuất nông nghiệp ở địa phương có bước phát triển mới, tiềm năng sản xuất trong dân được phát huy, người nông dân tích cực thâm canh tăng năng suất cây trồng, có hơn 70% số hộ trong xã vượt sản. Đó là những thắng lợi ban đầu hết sức căn bản làm tiền đề để đưa sản xuất nông nghiệp ở địa phương phát triển cao hơn. Trên cơ sở các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và thực tế địa phương, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm kì mới, phấn đấu đạt bình quân năng suất 5 tấn/ha gieo trồng, năm 1983 tăng sản lượng lương thực đạt 2.000 tấn trong đó màu quy thóc 243 tấn, năm 1985 phấn đấu đạt năng xuất 5,5 tấn/ha, tổng sản lượng đạt 2.100 tấn, bình quân đầu người 240 kg.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 11 đồng chí, đồng chí Lê Đình Lưu được bầu lại làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Lê Đình Đỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Phó Bí thư, đồng chí Lê Văn Long làm Trực Đảng.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ IX, cán bộ và nhân dân trong xã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh mà Đại hội đề ra. Các Chi bộ luôn bám sát thực tế sản xuất, có biện pháp chỉ đạo kịp thời khi có những phát sinh từ cơ sở. Một phong trào thi đua vượt sản diễn ra sôi nổi ở khắp các làng quê Thọ Cường. Nhiều hộ nông dân có thêm vốn đầu tư thâm canh tăng năng suất, ngoài tư liệu sản xuất của hợp tác xã giao, nhân dân đã mua thêm để chủ động trong sản xuất. Hệ thống thủy lợi được cải tạo, làm mới, những giống mới có năng suất cao được ứng dụng nhanh chóng, các dịch vụ cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu kịp thời ra đời.

Những nhân tố đó đã mang lại cho Thọ Cường những vụ mùa bội thu. Sản  xuất lương thực có bước tiến nhảy vọt, nếu so sánh năm 1982 với năm 1980 là năm chưa thực hiện khoán 100, sản lượng lương thực tăng 170%.

Bên cạnh những thuận lợi do khoán 100 mang lại, sản xuất ở Thọ Cường luôn gặp phải khó khăn do thiên tai, dịch bệnh mang lại. Năm 1983 vụ mùa bị thiên tai dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề, diện tích đồng sâu hoàn toàn mất trắng, diện tích đồng cao mất 20 - 30%. Nhưng nhờ có sự chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, sự năng động sáng tạo của nhân dân, tổng sản lượng vẫn đạt 1.096 tấn. Với tinh thần “mất vụ mùa bù vụ đông”, vụ đông năm 1983 vượt chỉ tiêu kế hoạch là 55 mẫu với tổng sản lượng là 234 tấn, chiếm 12,3 % tổng sản lượng lương thực trong năm. Do trồng trọt phát triển đã tạo cho nghành chăn nuôi phát triển. Nhờ có cơ chế khoán 100 đến hộ gia đình mà tổng đàn lợn năm 1981 đạt 1.200 con tăng hơn năm 1978 là 240 con, năm 1982 đàn lợn gia đình xã viên tăng 38%, trong đó lợn lai kinh tế tăng gấp 5 lần so với năm 1978.

Những năm 1983 - 1985 bão lụt hạn hán liên tục xảy ra. Vụ chiêm xuân rét đậm rét hại, mạ chết, lúa chết, vụ mùa đầu vụ nắng hạn, tháng 8 lụt úng gây tổn thất về tài sản và hoa màu của nhân dân. Ngoài thời tiết còn sâu keo gây tác hại cho năng xuất cả 2 vụ chiêm, mùa. Nhưng với tinh thần chỉ đạo của Đảng ủy kịp thời động viên nhân dân khắc phục mọi khó khăn vươn lên đã hạn chế được mất mát do thiên tai, dịch bệnh, vì vậy nên năm 1984, dù so với kế hoạch sụt 700 tấn, nhưng năng suất vẫn đạt 3,2 tấn/ ha, tổng sản lượng cả năm đạt 1.367 tấn. Nét mới nổi lên là vụ thu đông được mở rộng diện tích 65 ha.

Trong quá trình thực hiện chỉ thị 100 có lúc, có nơi còn thiếu chặt chẽ, buông lỏng quản lí. Năm 1985 Đảng ủy đã phát hiện kịp thời tình trạng khoán trắng của hợp tác xã đối với xã viên, đã kịp thời uốn nắn nên tình hình sản xuất được củng cố và phát triển định lại sản lượng khoán cho thích hợp, giao khoán ruộng cho lao động đúng mức, rà soát lại công việc để rút lao động sang ngành nghề đội chuyên. Nhờ tiến hành nhiều biện pháp nên năng suất được nâng lên, tổng sản lượng năm 1985 đạt 2.100 tấn, tăng so với năm 1984 là 733 tấn, làm nghĩa vụ nhà nước 200 tấn.

Lĩnh vực lưu thông được mở rộng, chính quyền đấu mối với cơ quan chức năng trong huyện tiến hành công tác thu mua lương thực thực phẩm theo chính sách 2 giá “giá quy định nhà nước và giá thỏa thuận” nông dân hồ hởi phấn khởi bán sản phẩm cho nhà nước với giá thỏa thuận, đáp ứng được yêu cần sản xuất và đời sống của nhân dân.

Do thực hiện khoán 100, thu nhập của gia đình xã viên tăng nhanh. Tổng sản phẩm xã hội tăng nhanh so với trước, đời sống của gia đình xã viên được cải thiện. Hợp tác xã đã có một phần tích lũy để tái sản xuất mở rộng, để mua sắm những công cụ phục vụ sản xuất, và phương tiện gia đình. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lương thực, thực phẩm đối với Nhà nước.

Về chăn nuôi, Đảng ủy chú trọng phát triển chăn nuôi toàn diện, chú trọng chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm đáp ứng nhu cầu thực phẩm, phân bón, sức kéo. Tập trung lãnh đạo phát triển đàn lợn lai kinh tế, lợn sinh sản, đồng thời tăng cường công tác thú y bảo vệ đàn gia súc, gia cầm. Do có sự quan tâm  lãnh đạo đúng mức của cấp ủy, năm 1984 – 1985 đàn lợn lai kinh tế đã chiếm tỷ lệ 50 - 60%, đàn trâu bò phát triển nhanh, tổng đàn đã có 450 con, đàn gà vịt có 5.900 con; về thủy sản thu 5 tấn cá mỗi năm.

Về lâm nghiệp, Đảng ủy chủ trương mở rộng trồng cây lâm nghiệp để phủ kín đất trống đồi núi trọc. Phát động nhân dân trồng cây ven đường và núi Ngọc bằng bạch đàn, xà cừ, lấy lực lượng các cụ làm nòng cốt để triển khai phong trào.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển nhanh, chủ yếu là sản xuất gạch ngói cho nhân dân xây dựng và đây là nguồn thu nhập lớn cho tập thể.

Giao thông thủy lợi được quan tâm hàng đầu, tập trung đầu tư xây dựng bằng phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. Địa phương tiến hành làm Cầu Phốc, đường liên hương Thọ Cường – Thọ Tiến, kênh mương đồng ruộng được tu bổ lại nhất là 3 vùng thâm canh lớn: Báy Nạy, Cồn Thêm, Đồng Rú, giao thông liên thôn được mở rộng tạo điều kiện cho nhân dân vận chuyển nông sản thuận lợi, các loại xe thô sơ, xe bò, xe cải tiến được sử dụng đại trà.

Lĩnh vực văn hóa xã hội trong những năm 1981-1985 đã có nhiều chuyển biến tích cực, số người đi học ở độ tuổi ngày càng nhiều, bình quân 3 người dân có 1 người đi học. Năm 1982 đã có 1.352 người đi học, các năm học 1982-1983 và 1983-1984 mặc dù điều kiện kinh tế còn khó khăn, chất lượng giáo dục  vẫn giữ được ổn định, học sinh cấp II tốt nghiệp 85%, học sinh trung cấp ngày một tăng.

Công tác y tế được mở rộng đến từng xóm. Đội ngũ thầy thuốc được bồi dưỡng trình độ chuyên môn nên đã đảm bảo điều kiện phòng ngừa dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Hoạt động thể dục thể thao trở thành phong trào quần chúng sâu rộng, phong trào bóng chuyền, bóng đá, phong trào chạy thể dục buổi sáng của các cháu từng xóm được duy trì. Tổ chức giao lưu bóng chuyền, bóng đá với xã bạn và Nông trường Sao Vàng.

Hoạt động về văn hóa thông tin, tuyên truyền cổ  động thực hiện thắng lợi chỉ thị 150 của Ban bí thư Trung ương Đảng, chính sách pháp luật nhà nước và nhiệm vụ chính trị của xã nhà, cổ động mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng bảo vệ quê hương, đất nước, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Về quốc phòng- an ninh: Nhận rõ tình hình cách mạng giai đoạn này là vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh, tình hình biên giới Việt - Trung còn căng thẳng, đế quốc Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận, các thế lực thù địch chống phá mọi mặt, Đảng bộ tập trung chỉ đạo chính quyền làm tốt công tác quốc phòng - an ninh, với thế trận chiến tranh nhân dân(46). Với phương châm: xây dựng lực lượng an ninh quốc phòng vững mạnh, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu thắng lợi, Đảng bộ đã chỉ đạo, mỗi thôn tổ chức một trung đội dân quân, đồng chí Bí thư chi bộ làm chính trị viên. Đảng bộ thường xuyên chăm lo bồi dưỡng giáo dục về chính trị - tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân được giương cao ngọn cờ Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nêu cao cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu, kết hợp với phát triển kinh tế xã hội, các chính sách hậu phương quân đội, chăm sóc giúp đỡ các gia đình có công với nước, gia đình thương binh liệt sỹ. Các đợt tuyển quân hàng năm Thọ Cường luôn hoàn thành tốt chỉ tiêu, đồng thời tổ chức tốt việc tiễn đưa con em lên đường cũng như đón tiếp con em hoàn thành nhiệm vụ trở về quê hương.

Trong 2 năm 1985, 1986, xã đã tiễn đưa 48 thanh niên lên đường nhập ngũ, lực lượng dự bị động viên tham gia diễn tập của huyện theo phương án C81, B84, M85 đạt kết quả tốt.

Công tác bảo vệ an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, được tăng cường đã phát hiện, triệt phá những ổ nhóm tội phạm trộm cắp tài sản tập thể và của nhân dân, vì vậy an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Công tác xây dựng Đảng: Thực hiện chỉ thị 72, 83 và Nghị quyết 32 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng bộ đã đẩy mạnh kết nạp đảng viên mới, kết hợp với công tác kiểm tra thực hiện điều lệ Đảng, kiên quyết đưa những đảng viên thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng. Đồng thời cũng cố nề nếp sinh hoạt Đảng, xác định đúng, đủ, rõ nhiệm vụ chính trị ở từng thời kỳ và phân công đảng viên phụ trách công việc. Trong công tác lý luận chính trị hàng năm, Đảng ủy gửi cán bộ đảng viên đi học sơ cấp chính trị, bồi dưỡng quần chúng ưu tú cho Đảng. Năm 1981- 1982 đã gửi  bồi dưỡng sơ cấp chính trị 5 đồng chí, trung cấp chính trị 1 đồng chí.

Trong chỉ đạo sản xuất, Đảng ủy mạnh dạn xắp xếp lại quản lý hợp tác xã nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu cơ chế khoán 100. Nhờ đó ban quản lý hợp tác xã nông nghiệp tinh giảm gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, giảm bớt lao động gián tiếp tăng thêm lao động sản xuất trên đồng ruộng.

Đảng bộ tăng cường những đảng viên có năng lực, trình độ, có uy tín nắm giữ các chức vụ chủ chốt, các chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền, tổ chức đoàn thể.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh đã tạo ra sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động, tạo ra năng lực tổ chức điều hành góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, ngày 27 tháng 9 năm 1985, tại hội trường xã đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ Thọ Ngọc lần X. Về dự có 159 đảng viên, trong đó có 131 đảng viên nam, 28 đảng viên nữ. Đại hội đã ra Nghị quyết quan trọng đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ giai đoạn trước, đề ra phương hướng hoạt động nhiệm kì mới và bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Lê Đình Lưu được bầu lại làm Bí thư Đảng bộ, đồng chí Lê Đình Đỉnh, được bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, đồng chí Lê Văn Long làm Trực Đảng(47).

Đại hội đánh giá cao tinh thần cố gắng của cán bộ và nhân dân trong xã trong việc thực hiện nhiệm kinh tế - xã hội mà Đại hội nhiệm kì trước đề ra. Khẳng định những thành tích đạt được trên các mặt, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị là quan trọng, tạo tiền đề để địa phương tiếp tục phát triển giai đoạn tiếp theo.

Mười năm khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy Triệu Sơn, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã làm nên những thành tựu to lớn trên các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được thay đổi theo chiều hướng phát triển.

Song giai đoạn này, ở tầm vĩ mô, “đất nước ta vẫn đang trong khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Lưu thông phân phối còn nhiều vấn đề nóng bỏng. Lạm phát tăng cao, đẩy giá thị trường tăng nhanh” (48). Trong khi đó cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp kéo dài, chính sách bao vây cấm vận của đế quốc Mỹ, chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, đời sống của nhân dân khó khăn, số nợ sản trong dân ngày càng nhiều, đã xuất hiện hiện tượng người nông dân ngại đầu tư sản xuất... Đây cũng là tình trạng chung của nhiều địa phương trong giai đoạn này. Với tinh thần của những người Cộng sản chân chính, Đảng bộ xác định, phải nhìn nhận rõ những tồn tại, khiếm khuyết, có giải pháp khoa học, cụ thể để vững bước tiến lên.

Nhìn lại chặng đường 10 năm (1976-1985) phát triển kinh tế - xã hội sau ngày thống nhất đất nước, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường gặp không ít khó khăn, thách thức trong việc thực hiện phát triển kinh tế - xã hội. Nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế, xã hội, cơ sở kết cấu hạ tầng của địa phương còn thấp kém, tư liệu sản xuất thiếu thốn; đời sống xã hội còn nhiều khó khăn, thiên tai thường xuyên đe dọa, song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Thọ Cường đã dũng cảm vượt qua, giành được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng quê hương giàu mạnh. Trong quá trình dựng xây và phát triển, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường tự hào về những thành tích đã đạt được. Tổng sản lượng lương thực so với giai đoạn trước tăng vượt bậc, nghĩa vụ Nhà nước luôn hoàn thành, đời sống nhân dân được nâng lên... Đây là hành trang vô cùng quý báu để Đảng bộ và nhân dân bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                       Chương V

ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN

CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

( 1986- 2015).

Từ ngày đất nước thống nhất, toàn Đảng, toàn dân ta bước vào thời kì đầu của kỉ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong khoảng thời gian đó, đất nước ta diễn ra nhiều sự kiện quan trọng được ghi đậm nét vào lịch sử của Đảng và dân tộc. Nhân dân ta đã phấn đấu vượt qua mọi khó khăn chồng chất do hậu quả của chiến tranh để lại, giành được nhiều thắng lợi to lớn trong lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Cải biến được một phần cơ cấu của nền kinh tế xã hội, đặt những cơ sở ban đầu cho sự phát triển mới. Tuy nhiên, trong thời kì thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, chúng ta đã không đạt được kế hoạch đề ra là ổn định đời sống nhân dân. Sai lầm về tổng điều chỉnh giá- lương - tiền cuối năm 1985 đã góp phần đưa nền kinh tế nước ta vào những khó khăn mới, khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Trước tình hình ấy, liên tiếp các Hội nghị lần thứ chín, lần thứ mười, lần thứ mười một (khoá V) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đi sâu phân tích tình hình kinh tế - xã hội và bàn biện pháp quản lí xã hội, nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh trong việc thực hiện cơ chế mới trong quản lí kinh tế - xã hội, sử dụng lao động đất đai, đổi mới kế hoạch hoá...

Cách mạng Việt Nam đứng trước thử thách mới, đòi hỏi phải có sự đổi mới để tiến lên.

Là địa phương có truyền thống yêu nước và cách mạng, nhân dân cần cù trong lao động sản xuất, mười năm sau ngày đất nước thống nhất, Thọ Cường đã có những bước tiến quan trọng, nhất là về sản xuất lương thực, tuy nhiên, những khó khăn từ thực tế đặt ra là không nhỏ.

I. ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC  ĐỔI  MỚI, ĐẠT NHIÊÙ THẮNG LỢI TRÊN CÁC MẶT KINH TẾ - XÃ HỘI (1986 – 1995)

Những năm vừa qua, mặc dù kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, lại liên tiếp bị bão lụt đe doạ, nhưng nhân dân Thọ Cường vẫn phấn đấu vượt qua và đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Năng suất lúa tăng lên, tổng sản lượng lương thực các năm 1983 - 1985 tăng mạnh so với giai đoạn 1978 - 1980. Vấn đề lương thực bước đầu được giải quyết, bình quân lương thực đầu người tăng lên đáng kể, những cánh đồng hoang hoá bị xoá dần.

Tuy nhiên ở tầm vĩ mô, tình hình kinh tế - xã hội đang có những diễn biến phức tạp. Một số chính sách lỗi thời, lạc hậu đang kìm hảm sản xuất chưa hoàn toàn bị xoá bỏ. Nhữnh chính sách mới ra đời chưa định hình, chưa phát huy tác dụng đối với đời sống. Trong nông nghiệp, do việc điều chỉnh mức sản hàng năm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động, nên sau thời gian đầu hào hứng thâm canh, đã bắt đầu xuất hiện tư tưởng ngại đầu tư thâm canh tăng năng suất, có người đòi trả lại ruộng. Nhiều nơi do mức sản điều chỉnh lên quá cao, khiến người nhận ruộng không có lãi, từ đó, dẫn đến hiện tượng chây ì không chịu nạp sản. Tình hình chung của huyện Triệu Sơn cũng như các nơi trong tỉnh, tổng sản lượng nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng. Đây là những thách thức lớn trong sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này. Nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, sự gương mẫu của các đồng chí đảng viên mà Thọ Cường đã hạn chế được tối đa những khó khăn trên.

Trước những yêu cầu bức thiết của tình hình kinh tế - xã hội nước nhà, trước yêu cầu của đời sống xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986, đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhằm đưa nước ta từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng một xã hội phát triển, văn minh và hiện đại.

Đại hội VI của Đảng thực sự là “Đại hội của sự đổi mới theo tinh thần cách mạng và khoa học”(49), đã khẳng định: “phải đổi mới mạnh mẽ, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng thực trạng của đất nước, từ đó xác định mục tiêu và nhiệm vụ giai đoạn cách mạng mới, trước mắt, đề ra chủ trương, chích sách đúng để xoay chuyển tình thế, đưa đất nước vượt khó khăn, tiến lên phía trước”.(50)

Đại hội đã khẳng định: Tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã đánh giá: sau mười năm hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục hậu quả, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với nổ lực của toàn dân đã làm chuyển biến tiến bộ nhiều mặt, xây dựng được nhiều giá trị mới trên các lĩnh vực xã hội. Nhưng chế độ quan liêu bao cấp để lại nhiều hệ lụy, không phù hợp với đất nước độc lập thống nhất, phát triển theo xu thế toàn cầu. Do đó cần đổi mới toàn diện, trước mắt đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới phương thức phong cách lãnh đạo, xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung thực hiện ba chương trình về kinh tế là: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng xuất khẩu.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, toàn xã hội bừng lên một khí thế thi đua mới. Khắp các công trường, xưởng máy, đồng ruộng, công sở, các lĩnh vực văn hoá, xã hội, thông tin đại chúng...tinh thần đổi mới của Đảng lan toả, tạo nên động lực sản xuất, công tác mới. Nhân dân càng tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng.

Trước đó, tháng 10 năm 1986, Đại hội tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XII đã xác định phương hướng, mục tiêu, biện pháp tổ chức lãnh đạo các huyện, thị thực hiện công cuộc đổi mới trong toàn tỉnh với hai nhiệm vụ chiến lược và ba chương trình kinh tế mà dự thảo Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra, nhằm ổn định phát triển kinh tế xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng vật chất kỷ thuật bảo đảm nhu cầu đời sống, quốc phòng và an ninh.

Tháng 9 tháng 1986, Đại hội Huyện Đảng bộ Triệu Sơn lần thứ X được tổ chức. Đại hội tiến hành thảo luận và thống nhất cao với dự thảo văn kiện trình bày tại Đại hội lần thứ VI của Đảng. Đặc biệt đánh giá cao tinh thần đổi mới của Đảng ta. Đại hội đã đề ra chủ trương biện pháp thực hiện đổi mới trong huyện, xác định nhiệm vụ tập trung lãnh đạo là: phát triển nông nghiệp thâm canh tăng vụ, từng bước ổn định lương thực, đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm, gia súc sinh sản và sức kéo, phát động trồng cây lâm nghiệp phủ kín đất trống đồi trọc, tích cực chuyển đổi cây, con ngắn ngày có năng xuất chất lượng cao. Kịp thời chuyển hướng cho đời sống và dịch vụ thực hiện cơ chế quản lý mới.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, Đảng bộ Thọ Cường tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII và Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X. Trong hoàn cảnh tình hình quốc tế có nhiều thay đổi, các thế lực thù địch điên cuồng chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, Đảng bộ thống nhất cao với với các bài học kinh nghiệm có tính thời sự và chính trị: “Một, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Hai, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Ba, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới. Bốn, phải chăm lo xây dựng đảng ngang tầm một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”(51). Có thể nói đây là những định hướng rất quan trọng cho toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn cách mạng mới. Đảng bộ cũng đã quán triệt tinh thần Đại hội Đảng bộ tỉnh và Đại hội Đảng bộ huyện, trên tinh thần đó đề ra phương hướng hành động và nhiệm vụ cụ thể của địa phương.

Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội giai đoạn này trong điều kiện xã hội còn vô vàn khó khăn, nhưng làn không khí đổi mới đang lan tỏa khắp đất nước. Những bài viết của tác giả N.V.L trong chuyên mục những việc cần làm ngay như tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đổi mới(52).

Giai đoạn này, Đảng bộ Thọ Cường có 159 đồng chí, trong đó có 23 nữ, có 9 chi bộ, gồm 8 chi bộ ở các thôn và một chi bộ ghép cửa hàng mua bán và nhà trường.

Thọ Cường là xã thuần nông, không có ngành nghề truyền thống, không có khu công nghiệp tập trung, đường giao thông chưa phát triển, trong giai đoạn đầu chuyển cơ chế gặp rất nhiều khó khăn phức tạp, thu nhập của người dân thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn, hàng năm có khoảng 30% số hộ thiếu ăn nhất là tháng ba ngày tám.

Năm 1987 sản xuất nông nghiệp bị thiên tai tàn phá, vụ chiêm thời kỳ lúa trổ đồng bị mưa đá, vụ mùa bọ rầy ở diện rộng, mặc dù Đảng bộ đã có nhiều biện pháp khắc phục, nhân dân rất tích cực ngăn chặn để phòng nhưng năng suất vẫn thấp, khê đọng sản phẩm lên đến 207 tấn, không đạt chỉ tiêu khoán, tập thể thất thu, nhân dân đói kém sa sút nghiêm trọng.

Năm 1988, cái đói ập đến trong toàn tỉnh, toàn huyện Triệu sơn, khoán 100 đã đã bộc lộ những hạn chế, tình trạng khoán trắng, mức khoán cao, làm cho xã viên kém phấn khởi không tích cực sản xuất cùng với thiên tai dịch bệnh bùng phát, năng suất lúa thấp, khó khăn chồng chất.

Để định hướng phát triển ở địa phương trong giai đoạn cách mạng mới, tiếp tục đưa nông nghiệp từng bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tháng 12 năm 1988, Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XI, (nhiệm kỳ 1988 - 1991)   được tổ chức. Đại hội tiến hành trong điều kiện toàn Đảng đang thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tư tưởng đổi mới đang lan tỏa khắp nơi. Với tinh thần nói thẳng, nói thật, đánh giá đúng thực trạng để tiến lên, Đại hội đã phân tích những nguyên nhân thành công và khuyết điểm của nhiệm kì trước, đồng thời đề ra các chỉ tiêu và biện pháp thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của những năm trước mắt. Đặc biệt, đi sâu thảo luận nhiệm vụ phát triển kinh tế trong cơ chế mới đi đôi với việc giữ gìn ổn định chính trị xã hội, an ninh, trật tự trên địa bàn, phát triển văn hoá xã hội.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ xã gồm 11 đồng chí, đồng chí Lê Đình Lưu được bầu tái cử làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí đồng chí Lê Đình Hoằng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Phó Bí thư, đồng chí Phạm Hữu Năm Đảng ủy viên, Trực Đảng ủy.

Sau Đại hội, Đảng bộ tập trung lãnh đạo nhân dân thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị. Để thể chế đường lối đổi mới của Đảng, trên cơ sở những thành công và những hạn chế của khoán sản phẩm theo Chỉ thị 100, ngày 5 tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lí kinh tế trong nông nghiệp, trong đó đề ra việc hoàn thiện hình thức khoán nên thường được gọi là khoán 10.

Nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng về xoá bỏ tập trung quan lưu bao cấp, thực hiện chính sách khoán trong nông nghiệp, theo tinh thần của Nghị quyết 10 NQ /TW của Bộ Chính trị và chỉ thị 15 CT /TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hoá, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Triệu Sơn đã tổ chức hội nghị để bàn bạc và triển khai thực hiện đổi mới quản lí trong hợp tác xã nông nghiệp.

Đảng bộ Thọ Cường nhận thức sâu sắc rằng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất ở địa phương, Đảng ủy xã họp phiên họp chuyên đề bàn về việc thực hiện khoán theo Nghị quyết 10 và chủ trương, khi thực hiện khoán mới phải đạt được 5 mục tiêu:

- Giải phóng mọi lực lượng sẵn có để sản xuất ra sản phẩm xã hội.

- Phát triển sản xuất ra hàng hoá theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

- Xoá bỏ chế độ hành chính quan lưu bao cấp, chuyển sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

- Phát huy mọi thành phần kinh tế trong địa phương. Gắn đổi mới quản lí trong nông nghiệp với việc xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa.

- Đổi mới quản lí kinh tế Nhà nước sang tính hệ thống, toàn diện.

Khi tiến hành khoán, xã Thọ Cường có 850 hộ, 3.800 nhân khẩu, đất tự nhiên có 586,06ha, đất trồng lúa 262ha, năng xuất bình quân đầu người 380 kg/người. Trong khi tiến hành khoán được chia làm 3 loại đất: đất 10% cho kinh tế hộ; loại đất chính cho sản xuất lương thực; ngoài ra để đất đấu thầu dành cho những hộ có năng lực sản xuất, tạo nguồn hàng hoá.

Thực chất cách khoán này chỉ là một bước cải tiến khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động theo tinh thần Chỉ thị 100, nét mới căn bản là chuyển hẳn từ chế độ khoán theo công điểm trước đây sang chế độ khoán theo đơn giá sản phẩm. Thanh toán gạo lúa, nông hộ đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ với nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng, cùng cạnh tranh, đồng thời Đảng ta lãnh đạo chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trên mặt trận sản xuất, Đảng bộ xác định: Coi trọng phát triển nông nghiệp toàn diện, tập trung cây lúa và cây màu lương thực, triệt để vận dụng thâm canh gối vụ, áp dụng giống mới có năng suất cao, giá trị hàng hoá lớn; đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm, gia súc, cá theo hướng sản xuất hàng hoá, mở rộng thêm con giống có giá trị hàng hoá cao; có chính sách hỗ trợ sản xuất vụ đông, từng bước đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính; đa dạng hoá các khâu dịch vụ, cung ứng vật tư nông nghiệp; tiếp tục cải tạo thủy lợi nội đồng nhằm chủ động tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp.

Từ thực tế sản xuất, Đảng bộ Thọ Cường đã rút ra kết luận quan trọng để chỉ đạo công tác khoán: trong sản xuất kinh doanh, phải quán triệt chủ trương, giải phóng sức sản xuất, chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc, sang sản xuất hàng hoá; tổ chức bán trâu bò cho các hộ xã viên, đồng thời tạo nguồn cho xã viên vay vốn để mua thêm trâu bò, đảm bảo đủ sức kéo cho sản xuất, điều chỉnh lại diện tích khoán hộ. Theo chủ trương của huyện, hợp tác xã đã tiến hành phân loại hộ sản xuất (dựa vào các tiêu chí như số khẩu, số lao động, vốn, gia đình chính sách...), đồng thời hợp tác xã cũng phân chia quỹ đất sử dụng như, diện tích đất cơ bản gia đình, diện tích đất khoán đấu thầu sát với thực tế của địa phương; tiến hành đổi mới lề lối làm việc của Ban Chủ nhiệm HTX cho phù hợp với cơ chế khoán sản phẩm.

Do có nhiều chính sách cởi trói cho nông nghiệp, từ  đó có tác động tích cực làm chuyển đổi nền kinh tế xã nhà đi lên. Thọ Cường đã đưa vào sản xuất một số giống lúa có năng suất cao như: V14, V15, IR22 v.v...Sản lượng lương thực cả năm đạt 1.394 tấn, đặc biệt vụ đông năm 1989-1990 lần đầu tiên Thọ Cường đưa cây ngô vào gieo trồng trên đất 2 lúa đã giành thắng lợi với 57 ha cây ngô đông, sản lượng đạt 100 tấn quy thóc, góp phần đưa sản lượng lương thực năm 1990 đạt 1.490 tấn, bình quân đầu người 370 kg, hoàn thành 150 tấn lương thực cho Nhà nước.

Do chuyển đổi cơ chế cũ sang cơ chế mới, nhiều ách tắc được tháo gỡ thuận lòng dân, ý Đảng, nên trên các mặt đều phát triển, năng xuất, chăn nuôi gia súc gia cầm tăng dần, đời sống tinh thần vật chất của nhân dân được nâng lên, hộ nghèo giảm dần, nhân dân có điều kiện sửa sang, nâng cấp nhà cửa, mua sắm nội thất, phương tiện nghe nhìn, đi lại.

Công tác văn hóa xã hội cũng đã có những tiến bộ, cơ sở vật chất hạ tầng được tăng cường như: sửa sang đóng đồ gỗ hội trường, nơi sinh hoạt tập thể, xây dựng thêm 2 phòng học, thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, trích quỹ hỗ trợ vật liệu xây nhà cho 2 thương binh nặng.

An ninh chính trị trật tự xã hội giữ vững, không có vụ việc lớn xảy ra trong xã.

Trong hai năm 1991-1992, Đảng bộ tiếp tục lãnh đạo giải quyết những tồn đọng trong cơ chế bao cấp, bán đấu thầu ao hồ đồng Mốc, đồng Rộn, thanh lý khu chăn nuôi, chuyển giao hợp tác xã mua bán sang Ủy ban nhân dân quản lý.

Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Triệu Sơn, ngày 25 tháng 8 năm 1991 Đảng bộ tiến hành đại hội lần thứ XII, có 161 đảng viên dự Đại hội, trong có 37 đảng viên nữ, 124 đảng viên nam. Đại hội đã bầu Ban chấp hành 11 đồng chí, Ban Thường vụ có 3 đồng chí, đồng chí Lê Khắc Kháng được bầu làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Lê Đình Hoằng, Chủ tịch UBND xã làm Phó Bí thư. đồng chí Lê Đình Thường, Thường vụ, Chủ nhiệm hợp tác xã nông Nghiệp, đồng chí Lê Văn Long Trực Đảng.

Đại hội Đảng bộ nhiệm kì này diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu trên đường suy thoái và sụp đổ. Đảng bộ kêu gọi đảng viên trong toàn Đảng bộ và nhân dân trong xã, hơn lúc nào hết cần vững vàng tạo niềm tin xu thế phát triển, toàn Đảng toàn dân đoàn kết thống nhất chung sức chung lòng vượt qua thách thức. Phát huy truyền thống dân tộc, bản lĩnh cách mạng kiên cường, bằng mọi biện pháp tích cực đánh bại mọi âm mưu thù địch của kẻ thù và các thế lực thù địch,  đưa đất nước thoát khỏi khủng khoảng kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, mở rộng quan hệ quốc tế. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tiếp tục thực hiện có hiệu quả vững chắc các chương trình kế hoạch trong lộ trình đổi mới đã được xác định trong nghị quyết của Đảng.

Đại hội Đảng bộ đã thống nhất đánh giá tổng quát tình hình cơ sở là: Sau gần hai mươi năm hàn gắn vết thương chiến tranh và thực hiện công cuộc đổi mới, bước đầu xã Thọ Cường đã đạt được những kết quả cơ bản, tuy kết quả còn hạn chế và chưa vững chắc trên một số mặt, do đó trong nhiệm kỳ tới cần khắc phục nhận thức sai lệch nôn nóng, cảnh giác với mọi âm mưu thù đoạn và chống đối của kẻ thù trong diễn biến hòa bình, nhất là trong đảng viên, cán bộ của Đảng.

Trọng tâm trước mắt là sản xuất nông nghiệp cải thiện đời sống nhân dân, an sinh xã hội, thường xuyên đảm bảo diện tích gieo trồng từ 210 ha – 250 ha, sản lượng từ 1900 tấn – 2000 tấn, bình quân lương thực từ 380 kg – 410 kg/người năm 1996.

Tạo môi trường thuận lợi phát động toàn dân tích cực chăn nuôi gia súc, gia cầm phục vụ cho tiêu dùng, trao đổi hàng hóa và phục vụ gia đình. Phấn đấu hộ sản xuất nông nghiệp có 1 con trâu hoặc bò, có từ 1 - 2 con lợn, chú trọng phát triển lợn hướng nạc, trâu bò sinh sản.

Đảm bảo an ninh lương thực từng gia đình trong làng, xã, tiếp tục củng cố hệ thống tưới tiêu, đường giao thông nội đồng bảo đảm cho sản xuất và vận chuyển thuận lợi. Ổn định và phát triển đời sống nhân dân, thực hiện tốt chủ trương xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tranh tre.

Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, có từ 50% chi bộ trở lên đạt chi bộ trong sạch vững mạnh, 100% đảng viên hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao, đảng viên đạt mức 1 và đảng viên xuất sắc ngày càng cao, không có đảng viên yếu kém phải đưa ra khỏi Đảng.

Để từng bước hoàn thiện công tác khoán trong nông nghiệp, ngày 29 tháng 1 năm 1993, UBND tỉnh Thanh Hoá đã ra Nghị quyết số 117-NN/UBTH về việc giao ruộng đất ổn định, lâu dài cho nông dân. Thực hiện chủ trương trên, Thọ Cường đã tiến hành rà soát, phân định hạng đất, cân đối nhân khẩu để chia ruộng theo nguyên tắc: lấy lần chia ruộng năm 1988 làm cơ sở, ưu tiên những gia đình chính sách, neo đơn, khó khăn về lao động, đời sống, còn lại các hộ đều có ruộng khó, ruộng dễ, ruộng gần, ruộng xa...

Có thể nói công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và khoán 10, đã tạo ra một luồng sinh khí mới ở làng quê Thọ Cường. Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào đường lối sáng suốt của Đảng càng hăng say sản xuất. Hội Nông dân phát động thi đua phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, tuyên truyền khoán 10, đồng thời tổ chức, vận động hội viên phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hoá các sản phẩm trong nông nghiệp, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ, đẩy mạnh phong trào thi đua “ Gia đình nông dân sản xuất giỏi”, tích cực tham gia phong trào “xoá đói giảm nghèo”, vận động hội viên vươn lên làm giàu chính đáng. Đoàn thanh niên luôn là lực lượng xung kích, đi đầu trong việc triển khai ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản suất, giúp nhau lập nghiệp, đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai, bảo vệ mùa màng... Có thể nói người và đất Thọ Cường tất cả đều vào cuộc, tiềm năng sản xuất được huy động tối đa, tất cả vì sự thành công của công cuộc đổi mới, tất cả vì sự giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân.

Trong khi cán bộ và nhân dân trong xã đang phấn khởi thi đua sản xuất, thì ngày 29, 30 tháng 12 năm 1993, Đại hội Đảng bộ xã Thọ Cường lần thứ XIII được tổ chức, có 160 Đảng viên dự Đại hội. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 11 đồng chí, bầu 3 đồng chí vào Ban Thường vụ, đồng chí Lê Đình Hoằng được bầu làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Lê Đình Thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Phó Bí thư, đồng chí Lê Văn Long Trực Đảng.

Đại hội đã xác định tiếp tục thực hiện hoàn thiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa XII về những nội dung cơ bản thực hiện công cuộc đổi mới. Từng bước nâng cao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất theo khả năng và yêu cầu cơ chế mới, chú trọng sản xuất vụ thu và vụ đông để đảm bảo an ninh lương thực và tăng thu nhập, quan tâm cây ngô lai, giống cây ngắn ngày hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo diện tích vụ thu và vụ đông hàng năm từ 80 đến 100 ha.

Sau Đại hội Đảng bộ, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân đã có những chủ trương biện pháp, kế hoạch thực hiện Nghị quyết trong từng nội dung, nhiệm vụ cụ thể, tập trung vào các nhiệm vụ sau:

Hoàn thành kế hoạch chia ruộng canh tác theo khẩu ổn định lâu dài 20 năm cho hộ nông dân theo tinh thần Nghị quyết số 117-NN/UBTH của UBND tỉnh Thanh Hóa. Đây là việc làm ban đầu rất quan trọng của cả thời kỳ đổi mới nông nghiệp nông thôn. Hộ tự sản xuất dịch vụ theo định hướng chung về giống, thời vụ, bảo vệ thực vật,bảo vệ đồng ruộng môi trường….

Quá trình lãnh đạo sản xuất đã từng bước đưa các loại giống lúa thuần, lúa lai có năng xuất cao phù hợp từng xứ đồng và thời vụ, thay thế các giống cũ kém năng xuất, do đó tuy thời tiết khắc nghiệt, sâu bệnh phát sinh nhưng vẫn đảm bảo thâm canh năng xuất, năm sau tăng hơn năm trước từ 10 – 30%.

Sản xuất ổn định, phát triển tạo điều kiện cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, đảm bảo các hộ có một con trâu hoặc bò cho cho cày kéo hoặc sinh sản, 1 đến 2 lợn nái và lợn thịt, hộ nào cũng có gia cầm để cải thiện. Một số hộ đã phát triển gia trại nuôi trâu bò, gà, vịt sinh sản cung cấp ra thị trường tăng thu nhập.

Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội. Năm 1993 đã xây thêm hai phòng học, tách trường cấp 1 và trường cấp 2 thành hai trường Tiểu học và Trung học cơ sở, tạo môi trường thuận lợi cho con cháu học tập, xây mới và chuyển trạm xá từ xóm 5 về xóm 6, công tác y tế đã đảm bảo kịp thời sơ cứu điều trị với tinh thần tích cực nhất.

Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, địa phương đã đầu tư 58 triệu đồng xây dựng tượng đài anh hùng liệt sỹ, đây là nơi tôn vinh tưởng nhớ các linh hồn liệt sỹ của quê hương Thọ Cường đã hy sinh trong công cuộc kháng chiến và bảo vệ tổ quốc. Cũng là nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ, với tinh thần “uống nước nhờ nguồn”.

Hàng năm, Thọ Cường luôn thực hiện tốt chỉ tiêu tuyển quân. thực hiện tốt quốc phòng toàn dân. Trong 10 năm địa phương đã tiễn đưa 96 thanh niên nhập ngũ trong đó có 2 đã trở thành sĩ quan quân đội, 5 người đã được kết nạp vào Đảng.

An ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững không có vụ việc lớn xảy ra trong địa bàn xã.

Chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức và có phương hướng hoạt động cụ thể, nên đã phát huy tốt sức mạnh tổng hợp sức mạnh toàn dân. Bằng các phong trào hành động của hội viên, đoàn viên  thực sự là nơi tập hợp lực lượng, khối đại đoàn kết phản ánh dân chủ, công bằng ở mỗi cấp.

Về xây dựng Đảng: Từ thực tế lãnh đạo ở địa phương, Đảng bộ đã chú trọng tổ chức và tư tưởng, có nhiều kết quả thiết thực lãnh đạo tổ chức thực hiện, nội bộ đoàn kết thống nhất nhưng chưa thực sự đủ mạnh để bảo đảm nhiệm vụ, cần phát huy ý chí trách nhiệm, nguyên tắc lãnh đạo tập trung dân chủ, phát huy sức mạnh của các khối chính trị xã hội  trong hệ thống chính trị của địa phương.

Năm 1995, để phù hợp với cơ chế mới, thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU của Tỉnh uỷ Thanh Hoá, HTX nông nghiệp được giải thể, toàn bộ việc quản lí ruộng đất, điều hành sản xuất, được giao cho UBND xã, đồng thời chuẩn bị thành lập mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.

Gần 40 năm tồn tại của HTX nông nghiệp là một quá trình dựng xây, phát triển và trưởng thành. Từ những tổ đổi công ban đầu người nông dân chập chững làm quen với hình thức làm ăn tập thể, đến hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp, hợp tác xã nông nghiệp bậc cao là một quá trình biến đổi quan trọng về chất, phản ánh sự thay đổi quan trọng đời sống kinh tế - xã ở Thọ Cường. Quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa được hình thành, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, người nông dân thoát khỏi cảnh sống tù túng, quẫn bách vì thiếu ăn, thiếu mặc. Đời sống văn hoá mới nẫy chồi, đơm hoa trên mảnh đất vốn nghèo nàn với bao hủ tục lạc hậu, làng quê đổi mới từng ngày, phúc lợi tập thể được tích luỹ, Thọ Cường có điều kiện đóng góp sức người, sức của xứng đáng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại của mình, nhất là những năm về sau, cũng như nhiều nơi, mô hình hợp tác xã ở Thọ Cường đã bộc lộ những khiếm khuyết như: chậm đổi mới trong công tác quản lí; sản xuất nông nghiệp tuy phát triển nhưng thiếu tính ổn định, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, vẫn chưa phá được thế độc canh cây lúa; chưa coi trọng và nâng cao chất lượng hàng hoá; việc chuyển giao khoa học kĩ thuật còn chậm. Đây là những thách thức không nhỏ đối với Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng quê hương giàu mạnh.

Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, công tác Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thành công của sự nghiệp cách mạng trên địa phương. Trong thực tế lãnh đạo của mình, Đảng bộ đã vững vàng vượt qua mọi sóng gió, thử thách từng bước đưa quê hương thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu vươn tới ấm no, hạnh phúc. Đứng trước tình hình cách mạng mới, Đảng bộ càng thấy rõ ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng Đảng. “Cách mạng Việt Nam đang ở bước chuyển rất quan trọng: từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động  theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước, mở cửa giao lưu quốc tế, trong đó nhiệm vụ trung tâm là từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân chủ hoá chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”(53). Có thể nói, đây là giai đoạn cách mạng trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến mạnh mẽ đòi hỏi mỗi đảng viên và toàn Đảng bộ phải vững vàng, kiên định lập trường, công tác giáo dục, bồi dưỡng đảng viên càng trở nên quan trọng.

Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới trong điều kiện quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, đã tác động mạnh vào tư tưởng, tình cảm và niềm tin của cán bộ và nhân dân ta, gây ra những hoang mang, dao động trong không ít người. Các thế lực đế quốc và phản động trong và ngoài nước được dịp điên cuồng chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, nhằm giảm lòng tin của nhân dân ta vào Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì từ ngày 20 tháng 1 năm 1994 đến 25 tháng 1 năm 1994 Đảng ta đã chỉ rõ bốn nguy cơ là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tình trạng tham nhũng, tệ quan liêu và diễn biến hoà bình.

Trước những thách thức do ngoại cảnh tác động tới, Đảng bộ đã vững vàng lãnh đạo nhân dân từng bước vượt qua khó khăn, tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Đảng bộ đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên, coi đây khâu then chốt để tăng cường sức mạnh của Đảng, tạo chỗ dựa tinh thần cho quần chúng, tạo nên khối đoàn kết toàn dân chống lại âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Trong 10 năm (1986 -1995) thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã đạt được những thành tựu quan trọng:

Thực hiện khoán 10 và việc giao đất ổn định lâu dài, sản xuất nông nghiệp ở địa phương có bước phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được nâng lên. Mặc dù có nhiều phức tạp, nhạy cảm trong việc chuyển đổi cơ chế nhất là việc chia ruộng theo khẩu, nhưng địa phương đã có nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn, phù hợp. Để góp phần xây dựng các cơ sở hạ tầng, địa phương đã chuyển đổi một số đất canh tác kém năng xuất thành thổ cư như: đồng Cầu, đồng Rộn, trại Cố Láng, đồng Nia, bãi Trái, Hàn Thước v.v…

Cơ sở hạ tầng được tăng cường đáng kể. Địa phương đã tiến hành xây dựng tượng đài liệt sỹ, trích quỹ hỗ trợ góp phần xây nhà cho 2 thương binh nặng. Liên hệ với các cơ sở điện lực, trường đại học Bách Khoa Hà Nội để có được kế hoạch làm điện lưới quốc gia (1992-1995), khởi công xây dựng 2 trạm biến áp và từ cuối năm 1995 toàn xã đã có điện lưới quốc gia. Thọ Cường là xã có điện lưới sớm nhất so với nhiều xã trong huyện, trong tỉnh, góp phần quan trọng cho sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.

Cũng giai đoạn này, đị phương đã, xây nhà bưu điện văn hóa xã, xây mới trạm xá xã, làm mới 2 phòng học, tách cấp 1 và cấp 2 thành 2 trường Trung học cơ sở và trường Tiểu học, xây dựng 7 nhà văn hóa xóm cũng là nhà cho các cháu mầm non học tập.

Thường xuyên làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước về nghĩa vụ thuế, tuyển quân đạt và vượt chỉ tiêu, thực hiện tốt an ninh quốc phòng, làm tốt kế hoạch chương trình tình nghĩa như: ủng hộ nước bạn Cu Ba, ủng hộ nhân dân Miền Trung bị bão lụt.

Công tác xây dựng hệ thống chính trị, công tác tổ chức cán bộ có nhiều chuyến biến tích cực phù hợp với xu thế phát triển. Địa phương đã tiến hành thành lập xóm 9 (đồng Cầu) chuyển các đội thành xóm. Năm 1990 thành lập hội Cựu Chiến Binh đã thu hút đại bộ phận cựu chiến binh tham gia trong hai cuộc kháng chiến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là lực lượng nòng cốt cho ý chí, phẩm chất đã được rèn luyện trong chiến tranh đã góp phần rất quan trọng trong xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Năm 1990, thực hiện Nghị quyết 24 của Tỉnh uỷ Thanh Hoá về việc triển khai cuộc vận động “ Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Đảng bộ coi đây là cơ hội để chỉnh đốn Đảng, mỗi tổ chức Đảng, mỗi đảng viên nhìn nhận đánh giá lại mình, khắc phục yếu kém để từng bước vươn lên. Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, Đảng uỷ xã đã tiến hành nghiêm túc và thu được kết quả khả quan.

Nhờ được học tập thấu đáo, lại được nhân dân tực tiếp góp ý, nên quá trình phân loại ở các chi bộ diễn ra thuận lợi. Đi đôi với việc kiểm điểm giáo dục, Đảng uỷ đã xem xét, xử lí kỉ luật những đảng viên không đủ tư cách, nhằm giữ nghiêm kỉ luật Đảng. Trong cuộc vận động này, Đảng bộ đã đề nghị đã xoá tên, chấp nhận đơn xin ra khỏi Đảng và khai trừ những đảng viên giảm sức chiến đấu, vi phạm kỉ luật Đảng.

Trong 10 năm liền các chi bộ luôn đạt khá, vững về chính trị và tổ chức. Có từ 30 - 50% chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, 100% đảng viên đủ tư cách có 60 - 80% đảng viên đạt mức I, nhiều đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được khen thưởng, không có chi bộ, cấp ủy, đảng viên yếu kém khai trừ kỷ luật Đảng. Năm 1994 Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh.

Đời sống tinh thần vật chất của Đảng bộ và toàn dân được cải thiện một bước đáng kể, đã tăng thu nhập hàng năm từ 380 kg lên 410 kg/người, không còn hộ đói, giảm nghèo, xóa dần nhà tranh, 100% số hộ có phương tiện nghe, nhìn, nhiều hộ có xe máy, xây nhà tầng, sắm nội thất ngày càng khang trang.

Bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản, song tồn đọng lớn nhất cho đến ngày nay là khê đọng sản phẩm trở thành nợ công lớn nhất từ khoán hộ đến nay là 365 tấn, trong đó 11 tấn nợ vay đầu tư trâu, bò.

Mười năm thực hiện công cuộc đổi mới theo tinh thần nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, trong giai đoạn đầu có nhiều khó khăn, phức tạp, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ đã nắm vững chủ trương đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, đề ra các biện pháp tổ chức thực hiện từng bước phù hợp. Với  sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân đã thu được kết quả bước đầu rất quan trọng tạo ra nếp nghĩ, phương thức sản xuất kinh doanh mới, tạo ra niềm tin khí thế mới cho năng xuất ngày càng cao. Cuộc sống ấm no, hạnh phúc đang trở thành hiện thực sinh động trên quê hương Thọ Cường. Tạo đà, tạo niềm tin cho Đảng bộ và toàn dân ta vững bước tiếp tục công cuộc đổi mới, tiến hành hiện đại hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn trên mảnh đất xã Thọ Cường yêu dấu.

II. ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN, TIẾN HÀNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 1996 - 2015

1. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (1996 - 2005)

Mười năm đổi mới là chặng đường đầy cam go, thử thách trong quá trình chuyển đổi cơ chế, trong sự tự làm mới mình, nhằm tìm ra con đường thích hợp nhất đưa đất nước tiến lên, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong quá trình đó, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Tuy kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng về cơ bản, nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Trong không khí phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân về những thành tựu do công cuộc đổi mới đưa lại, Đại hội VIII của Đảng họp tại Hà Nội từ 28 tháng 6 năm 1996 đến 1 tháng 7 năm 1996 đã khẳng định: “Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kì quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”(54).

Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Thọ Cường có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện, các thành phần kinh tế được hình thành và phát triển, nền kinh tế đã và đang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, cơ bản xóa bỏ cơ chế quản lý điều hành của chế độ quan liêu bao cấp, thúc đẩy sự năng động sáng tạo trong sản xuất hàng hóa. Những kết quả và sự chuyển biến trên chứng tỏ công cuộc đổi mới, mà trước hết là sự đổi mới tư duy về kinh tế, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đây là yếu tố quan trọng tạo tiền đề để đất nước phát triển trong những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, Đảng bộ xác định: đây mới là những kết quả bước đầu, nhiệm vụ trước mắt đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân  còn rất nặng nề, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Dưới ánh sáng Nhị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV, cũng như Nghị quyết huyện Đảng bộ tổ chức vào tháng 3 năm 1996. Đảng bộ xã Thọ Cường xây dựng Nghị quyết của Đảng bộ sát  đúng với điều kiện cụ thể của địa phương.

Ngày 10 tháng 1 năm 1996 Đảng bộ  đã tiến hành Đại hội toàn thể lần thứ XIV, nhiệm kỳ 1996 – 2000. Đại hội tiến hành đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, kinh tế, xã hội nhiệm kì trước, đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kì mới và bầu Ban Chấp hành gồm 11 đồng chí. Đồng chí Lê Đình Hoằng được bầu làm Bí thư, đồng chí Lê Đình Thường Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Phó Bí thư, đồng chí Lê Văn Long, Thường vụ làm Trực Đảng ủy.

 Đại hội chỉ rõ: Trong 5 năm Đảng bộ lãnh đạo nhân dân phát huy kết quả đã đạt được, tranh thủ các nguồn lực thời cơ khắc phục khó khăn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, khai thác sử dụng có hiệu quả các tiềm năng thế mạnh của địa phương, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh chuẩn bị tiền đề cho giai đoạn tiếp theo.

Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội trong nhiệm kì trước, Nghị quyết của Đại hội khẳng định: Bằng sự cố gắng vươn lên, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã khắc phục mọi khó khăn, nắm bắt thời cơ, tranh thủ sự hỗ trợ của cấp trên, vươn lên đạt được phần lớn mục tiêu cơ bản mà Đại hội nhiệm kì trước đã vạch ra. Công cuộc xây dựng và phát triển có nhiều khởi sắc, mặc dù còn có những tồn tại, nhưng kinh tế của địa phương tăng trưởng khá. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã bắt đầu được chú ý, đầu tư xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng, phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân tiếp tục được đẩy mạnh, văn hoá, xã hội phát triển đáng kể, công tác xoá đói, giảm nghèo thu được kết quả tốt, số hộ nghèo hàng năm đều giảm, an ninh quốc phòng được giữ vững. Những thành tích trên đã mang lại cho nông thôn Thọ Cường diện mạo mới, đời sống nhân dân tăng lên rõ rệt, nhân dân thêm  tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, đây là giai đoạn đầu của thời kì đổi mới, nên trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện không tránh khỏi bỡ ngỡ, lúng túng, khuyết điểm.Với tinh thần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, dũng cảm nhận khuyết điểm để vươn lên, Đại hội chỉ rõ những thiếu sót cần khắc phục là: Trong sinh hoạt của Ban Chấp hành chưa tổ chức được nhiều kì sinh hoạt chuyên đề bàn sâu vào công tác phát triển kinh tế; có những thời điểm, một số đảng viên tỏ ra hoang mang, dao động, không giữ được phẩm chất đảng viên, nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế tuy có nhiều chuyển biến, nhưng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Các ngành nghề ở địa phương chưa phát triển đồng bộ, cần có sự đầu tư hơn nữa về công tác chỉ đạo cũng như tháo gỡ kịp thời các vướng mắc thực tế đặt ra...Đảng bộ đã nghiêm túc rút ra bài học kinh nghiệm, khắc phục khó khăn để vững bước tiến lên.

Về các mục tiêu kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, Đại hội xác định: Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, coi trọng áp dụng các tiến bộ kĩ thuật nhằm đưa năng suất cây trồng, vật nuôi lên cao. Đẩy mạnh hơn nữa việc khuyến khích nông dân phát triển kinh tế hộ theo mô hình VAC(55), chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hàng hoá, tăng cường hơn nữa công tác văn hoá- xã hội, giữ vững an ninh chính trị xã hội, đảm bảo trật tự kỉ cương và an toàn xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

Tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từng bước đưa máy móc vào đồng ruộng, phấn đấu đạt tổng sản lượng lương thực từ 2.000 – 2.300 tấn, bình quân đầu người đạt 380 -.450kg/năm, duy trì phát triển đàn trâu bò gần 700 con, đàn lợn 3.000.-4000 con, trong đó lợn nái  550 - 600 con, đàn gia cầm khoảng 25.000 con.

Để thực hiện Nghị quyết Đại hội, toàn xã dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, vượt mọi khó khăn, quyết tâm vươn lên giành những thành tích cao nhất. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, sau hơn 10 năm thực hiện khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, nhân dân đã bước đầu làm quen với cơ chế mới. Người nông dân bắt đầu hướng tới cơ chế thị trường, sản xuất những gì thị trường yêu cầu để thu lãi nhiều nhất, chính vì vậy, mọi tiềm lực sản xuất được “ bung ra”. Mặt khác, công cuộc đổi mới đã mang lại sự đa dạng phong phú trong dịch vụ, cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các tiến bộ khoa học cũng được người nông dân nhanh chóng áp dụng... Tất cả tạo nên sức bật mới cho sự phát triển nông nghiệp ở Thọ Cường.

Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của cả nước, sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường vẫn phụ thuộc quá nhiều vào thời tiết. Ngay trong năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm, vụ chiêm xuân năm 1996, một trận rét đậm kéo dài, nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 100C, Đảng bộ và chính quyền đã chỉ đạo nhân dân tập trung chống rét cho lúa và đàn gia súc, dù vậy, lúa vẫn chết hàng loạt, nhất là những trà lúa cấy giống mới, toàn xã phải cấy lại một số diện tích. Vụ chiêm qua đi trong rét đậm, rét hại, vụ mùa lại đến với bão dông, 4 đợt áp thấp, liên tiếp xảy ra, dìm cánh đồng lúa xuống làn nước bạc, gần 100 ha bị mất trắng. Đảng bộ và chính quyềng huy động mọi lực lượng cứu lúa, nhưng sức người, sức máy không đọ lại được với sức trời. Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng hầu hết diện tích lúa bị giảm năng suất, trong đó nhiều diện tích bị mất trắng. Tuy nhiên với truyền thống của mình, Thọ Cường vẫn hoàn thành nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước.

Mặc dù phải liên tục đương đầu với thiên tai, lũ lụt, nhưng nhờ bám sát tình hình cụ thể, vận dụng linh hoạt các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, khơi dậy được sức mạnh của quần chúng, sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 15 của Tỉnh ủy và Quyết định 1795 của UBND Tỉnh về đổi mới Hợp tác xã Nông nghiệp, trong 2 năm 1998 - 1999, Đảng bộ đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã chuyển đổi mô hình hợp tác xã nông nghiệp thành Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp theo tinh thần tự nguyện của nhân dân, nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp có tính chuyên sâu, hiệu quả hơn, tác động tích cực hơn đến sự phát triển các thành phần kinh tế, tạo thu nhập cao hơn cho nhân dân đặc biệt là phát huy tính sáng tạo, chủ động của nhân dân trong sản xuất theo hướng thâm canh.

Sản xuất phát triển, Thọ Cường có điều kiện đầu tư xây dựng các công trình phục vụ sản xuất và đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân. Kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 qua đi trong sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân, trong đó kết quả đạt được trong phát triển kinh tế, xã hội là rất đáng ghi nhận, thể hiện sự sáng tạo, năng động và tinh thần vượt khó của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tòan xã.

Để định hướng và thực hiện mục tiêu trong giai đoạn mới, tháng 9 năm 2000 Đại hội Đảng bộ lần thứ XV nhiệm kỳ (2000 - 2005) được tổ chức. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 11 đồng chí, đồng chí Lê Văn Long được bầu làm Bí thư, đồng chí Lê Đình Cường Chủ tịch ủy ban nhân dân xã làm Phó Bí thư, đồng chí Đặng Quyết Chí làm Trực Đảng ủy.

  Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ nhiệm kì qua, Đại hội khẳng định: Trong năm qua, các mặt kinh tế, xã hội trên địa phương đã có bước tiến vững chắc; kinh tế tăng trưởng khá, các mục tiêu kinh tế đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra; văn hoá- xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện...

Đại hội nhận thức sâu sắc rằng: Với ý chí tiến công cách mạng, Đảng bộ và nhân dân không tự thoả mãn với những gì đã đạt được. Những kết quả trên là to lớn và quan trọng, nhưng mới chỉ là bước đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh những thành công, những hạn chế, thách thức cần được nhìn nhận một cách khách quan, thấu đáo để dũng cảm vượt qua, như: kinh tế phát triển chưa đồng đều, tỉ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế còn cao; việc phát triển ngành nghề còn chậm, đầu ra gặp khó khăn; sản phẩm vụ đông giá trị hàng hoá còn thấp; tình trạng hạn, úng cục bộ vẫn còn. Mặc dù đã tập trung chỉ đạo nhưng một số biểu hiện mặt trái của cơ chế thị trường như: việc tổ chức ăn uống linh đình trong cưới xin, vấn đề vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm; lợi dụng dân chủ, tự do tín ngưỡng để tiến hành mê tín dị đoan...vẫn chưa khắc phục kịp thời. Mặt khác, xã hội đang trong thời kì phát triển mạnh mẽ, yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi các tổ chức Đảng, các đảng viên phải tự điều chỉnh, tự đổi mới, vươn lên, vượt lên chính mình để hoàn thành nhiệm vụ.

Trên cơ sở đánh giá thực tế khách quan và chủ quan, nắm vững chủ trương đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Đại hội đã đề ra những mục tiêu cơ bản cho công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Nghị quyết của Đại hội cũng đề ra mục tiêu: Tổng sản lượng lương thực đạt 2.500 tấn, bình quân đầu người đạt 400 - 480 kg/năm, giữ vững và phát huy tổng đàn gia súc gia cầm; xây dựng cơ sở hạ tầng từng bước làm thay đổi bộ mặt địa phương; tích cực làm trong sạch Đảng cũng như đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đáp ứng ngày càng cao đối với yêu cầu nhiệm vụ .

Sau Đại hội, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường dấy lên một phong trào thi đua sôi nổi, quyết tâm giành thành tích to lớn hơn nữa.

Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là sự phát triển tất yếu trong tiến trình cách mạng, đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân phải tập trung trí tuệ, đoàn kết, sáng tạo, phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng của mình để đạt được mục tiêu đề ra.

Về lĩnh vực kinh tế: Đảng bộ đã chỉ đạo vận dụng tuyên truyền cho nhân dân phát huy tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất đưa các loại giống lúa có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, chất lượng gạo ngon vào thâm canh như: R203, Khang dân 18, X20 v.v… Cùng với sản xuất 2 vụ chính, Đảng bộ đã chỉ đạo chính quyền, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tiếp tục cải tiến khoa học kỹ thuật trong sản xuất vụ đông, đưa các giống ngô lai vào sản xuất như: Bosecd; OK888; OK999…Khảo sát xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha ở xứ đồng Cồn Thêm ở xóm 2 vào năm 2004; tổ chức tập huấn kỹ thuật gieo trồng cho nông dân, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, cách phòng trừ sâu bệnh, vì vậy chăn nuôi trồng trọt luôn đạt hiệu quả cao.

Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ đã định hướng từng bước đưa máy móc vào đồng ruộng nhằm tăng năng suất lao động, giảm sức lao động cho nông dân. Năm 1996 từ 2 chiếc máy cày nhỏ, 1 chiếc công nông đã phát triển lên 15 chiếc máy cày, 14 chiếc công nông, 6 chiếc ô tô vận tải.

Năm 2000 thực hiện Nghị Quyết số 03 của Tỉnh ủy Thanh Hóa, Đảng bộ đã chỉ đạo hệ thống chính trị cùng quần chúng nhân dân tiến hành dồn điều đổi thửa phục vụ CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, khắc phục tình trạng đất đai manh mún. Với ý Đảng lòng dân đến giữa năm 2002 đã hoàn thành công tác dồn điền đổi thửa lần 1, đưa số thửa từ 7.565 thửa xuống còn 4.800 thửa.

Bằng sự đóng góp của nhân dân và một phần hỗ trợ của nhà nước địa phương đã tổ chức thi công 3.175 m kênh mương bê tông (mương Cồn thêm, Mương Cồn Chuông, mương Cố Biềng) trị giá 370 triệu đồng. Xây dựng cầu cống, giao thông nội đồng trị giá 36 triệu đồng đầu tư bằng nguồn vốn ngân hàng, tính đến năm 2005 số kết dư là 550 triệu đồng.

 Đặc biệt, vụ 10 năm 2000, lần đầu tiên Đảng bộ lãnh đạo đưa 30% diện tích cấy vào canh tác lúa lai 2 dòng lên 80%, đã tạo đột phá về năng suất, sản lượng vì vậy đã góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân hoàn thành chỉ tiêu lương thực do Đại hội đề ra, trong đó tổng sản lượng lương thực năm 2004 đạt 2.341 tấn.

Cuối năm 2004 đầu năm 2005, Đảng bộ cùng nhân dân thực hiện dự án cải tạo nâng cấp dự án Quốc lộ 47 dài 1,6 km, có 147 hộ thuộc diện đền bù với số tiền trên 5 tỷ đồng, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế tư nhân cũng như thông thương 2 vùng kinh tế Đông Tây của Tỉnh.

Về lĩnh vực văn hóa xã hội: Những năm 1996 - 2000 đã làm tốt công tác tu sửa nâng cấp cơ sở vật chất và các trang thiết bị cho nhà trường, đảm bảo tốt nhất cho công tác dạy và học. Số lớp và sĩ số học sinh hàng năm tương đối ổn định. Trường Trung học cơ sở có 8 - 12 lớp, 340 - 420 học sinh; Trường Tiểu học có: 12 - 14 lớp, 400 - 435 học sinh; Trường Mầm Non có 8 - 9 lớp, 200 - 260 học sinh.

Tỷ lệ hàng năm lên lớp và đậu tốt nghiệp đạt 97 đến 100% ,  học sinh khá giỏi đạt trên 50% trở lên. Trường Trung học cơ sở và Trường Tiểu học từng bước được bổ sung đội ngũ giáo viên đủ số lượng, chuẩn về chất lượng, tổ chức tốt chương trình dạy từ thiện đối với học sinh khuyết tật và yếu kém. Đồng thời tích cực bồi dưỡng cho học sinh giỏi trong đội tuyển. Hàng năm 2 nhà trường đều có giáo viên giỏi cấp huyện và giáo viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua. Hai trường luôn phát huy và giữ vững tiên tiến cấp huyện.

Từ năm 2001 địa phương đã phát động và duy trì  đều đặn phong trào khuyến học, khuyến tài, đã động viên và khích lệ có hiệu quả thành tích dạy và học của thầy và trò. Từ năm 2001- 2006 đã có:  39 học sinh giỏi cấp huyện; 12 học sinh giỏi cấp tỉnh, 25 giáo viên giỏi cấp trường và huyện, 131 cháu đậu vào Đại học, Cao Đẳng  và trung cấp chuyên nghiệp.

Phong trào giáo dục từng bước được xã hội hóa, vai trò nhà trường, gia đình và xã hội ngày càng gắn kết, đội ngũ thường trực Hội cha mẹ học sinh đã trở thành nòng cốt của phong trào. Năm 1998 xây thêm 3 phòng học, xây từng rào cho trường cấp 1 trị giá 39 triệu đồng và mua bàn ghế cho học sinh trị giá 11 triệu đồng; năm 2002 xây dựng văn phòng trường tiểu học trị giá hơn 40 triệu đồng, xây dựng trường Trung học cơ sở hai tầng trị giá gần 2 tỷ đồng, kinh phí xây dựng hoàn toàn do nhân dân đóng góp.

Năm 2005 xã đã thành lập trung tâm giáo dục cộng đồng phục vụ tốt cho việc học tập của người lớn như: tập huấn kỹ thật chăn nuôi, trồng trọt, tổ chức học nghề... Hàng năm mở được từ 15 - 20 lớp.

Để đảm bảo chăm lo khám sức khoẻ, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Đảng ủy đã chỉ đạo UBND cùng trạm y tế xã tranh thủ thời cơ xin dự án “tầm nhìn thế giới” để cải tạo nâng cấp cho trạm y tế giá 40 triệu đồng. Từ năm 1997 – 1998, đội ngũ y bác sỹ được đào tạo đủ sức hoàn thành nhiệm vụ của tuyến cơ sở. Hàng năm tổ chức thực hiện chương trình tiêm chủng, phòng ngừa dịch bệnh, tăng cường chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em. Hàng năm khám và điều trị cho hàng ngàn lượt bệnh nhân. Thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, riêng năm 2000 đã có 380 cặp vợ chồng đăng ký không sinh con thứ 3. Phong trào đăng ký xây dựng nhà vệ sinh đúng quy định của bộ y tế được hưởng ứng mạnh mẽ. Tính đến năm 2005 đã có tới 40% số hộ có giếng khoan, 50% số hộ có giếng khơi đảm bảo vệ sinh. Năm 2004, xã được công nhận “đơn vị chuẩn quốc gia về y tế”.

Công tác thông tin tuyên truyền đã bám sát hoạt động chính trị của địa phương tạo niềm tin và sự đồng thuận của cộng đồng để xây dựng và phát triển quê hương. Xây dựng hệ thống truyền thanh không dây trị giá 15 triệu đồng. Năm 2002 duy trì tốt chương trình phát thanh, đảm bảo ngày càng công khai rộng rãi hơn các hoạt động của hệ thống chính trị đến quần chúng nhân dân.

Tổ chức văn hóa văn nghệ thể dục thể thao nhân dịp lễ tết, tạo không khí vui tươi lành mạnh, cải thiện và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân. Tính đến năm 2005, các phương tiện nghe nhìn đã có hơn 80% số hộ có ti vi, ra đi ô cát séc, 95 % số hộ có xe máy, 50% số hộ có điện thoại, 100% số hộ có điện sáng hưởng theo cơ chế Nhà nước bán điện đến hộ(56). Địa phương đã xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền, thông tin kịp thời các chủ trương chính sách đến với nhân dân .

Vào thời điểm này phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư được khởi động. Năm 1998, triển khai thực hiện chỉ thị 27 về việc cưới, việc tang đã tác động trực tiếp đến nếp sống văn hóa trong khu dân cư.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa được chú trọng, như: xây dựng và ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ ngày vì người nghèo, ủng hộ nhân dân Cu - ba, ủng hộ vùng bị thiên tai bão lụt trị giá hàng trăm triệu đồng. Từ năm 2001- 2005 đã tổ chức khai trương 8 làng văn hoá trong tổng số 9 làng, đã được công nhận 5 làng văn hóa cấp huyện. Kết quả hoạt động các phong trào đã góp phần quan trọng thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Đảng ủy đã cùng hệ thống chính trị làm tốt công tác chính sách, chi trả đầy đủ kịp thời trợ cấp phụ cấp cho các đối tượng. Thăm hỏi tặng quà nhân dịp lễ tết. luôn chăm lo đến đời sống vật chất tinh thần các hộ chính sách, làm tốt công tác vận động nhân dân xóa nhà tranh tre dột nát theo Chỉ thị 08 của Tỉnh ủy. Tính đến năm 2006 đã xóa được 40/72 hộ với số tiền ủng hộ là 48 triệu đồng. Số ngày công và vật chất ủng hộ cho hộ nghèo là 200 triệu đồng.

Công tá an ninh – quốc phòng luôn được chú trọng nhằm tăng cường và đảm bảo ổn định chính trị, giữ vững an ninh trật tự, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân và bảo vệ thành quả cách mạng. Đảng bộ đã lãnh đạo lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng công an phối hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân một cách vững chắc, các cụm tuyến cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu được nâng cao chất lượng. Thường xuyên tổ chức tập luyện, diễn tập để nâng cao trình độ tác chiến, đủ sức xử lý có hiệu quả các âm mưu hành động bạo loạn, lật đổ các hoạt động gây rối trên địa bàn.

Tổ chức tốt phong trào cảm hóa, giáo dục những người lầm lỗi ra đầu  thú trở về cuộc sống lương thiện. Tổ chức tuần tra, canh gác xử lý tốt những vụ việc vi phạm. Từ năm 1996 - 2000 công an xã đã xử lý gần 100 vụ vi phạm như cờ bạc, trộm cắp… từng bước làm giảm sự bức xúc của nhân dân.

Về công tác quốc phòng, Đảng bộ đã lãnh đạo lực lượng dân quân thực hiện nghiêm túc các kế hoạch đã được phê duyệt, huấn luyện định kỳ đúng giáo án, giáo trình đảm bảo thời gian đạt chất lượng cao, chú trọng lực lượng nòng cốt, cơ động nên kết quả kiểm tra đánh giá của trên hàng năm đều hoàn thành nhiệm vụ. Công tác tuyển quân hàng năm đều đủ số lượng và chất lượng và được trên khen thưởng, từ năm 1996 - 2005 đã đưa 70 thanh niên lên đường nhập ngũ, cơ bản số thanh niên lên đường nhập ngũ đều làm đơn tình nguyện..

Trong thực tiến lãnh đạo, Đảng bộ luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết 03 của Trung ương Đảng và Nghị quyết Trung ương 6 lần 2 khóa VIII. Đồng thời tăng cường công tác xây dựng hệ thống chính trị, tạo sự đoàn kết thống nhất cao, phát huy vai trò hiệu quả công tác của các tổ chức về việc thực hiện  các chức năng nhiệm vụ của mình.

Trong công tác chính trị tư tưởng, Đảng bộ đã tổ chức tuyên truyền giáo dục cán bộ, Đảng viên có lập trường kiên định vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc học tập chính tri, quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng của cấp trên đến với mọi Đảng viên. Ban tuyên giáo xã được thành lập năm 1999, tiến hành thông tin thời sự cũng như các chỉ thị Nghị quyết của các cấp đến đảng viên và quần chúng nhân dân, tập huấn, bồi dưỡng nhận thức chính trị xây dựng. Quan tâm chú trọng bồi dưỡng đội ngũ bí thư và cấp ủy chi bộ, chính vì vậy giai đoạn này Đảng bộ cơ bản giữ vững được sự đoàn kết thống nhất cao, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

Trong công tác tổ chức: tổng số Đảng viên biến động từ 145 đến 189 đồng chí, sinh hoạt ở 11 chi bộ. Từ năm 1996 - 2010 Đảng bộ có từ 40% đến 70% chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, Đảng bộ đạt khá. Từ năm 1996 đến năm 2010 đã có 113 Đảng viên được tặng huy hiệu từ 30 năm đến 60 năm tuổi Đảng. Trong đó có 2 đồng chí đạt huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, 50 tuổi Đảng có 2 đồng chí, 40 tuổi Đảng có 44; 30 tuổi Đảng có 27 đồng chí.

Đảng ủy đã cử 11 đồng chí đi học trung cấp chính trị, 5 đồng chí đi học Quản lý Nhà nước, xét 86 đoàn viên ưu tú đi học lớp nhận thức về Đảng và xét đề nghị kết nạp 74 đoàn viên ưu tú vào Đảng.

Giai đoạn này, tình hình đơn thư khiếu kiện liên tục kéo dài và phức tạp đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chính trị của địa phương. Từ năm 2005 - 2006 đã giải quyết đơn thư của công dân thôn 3, thôn 7 về đất đai, công tác chính sách, về đền bù cải tạo chi giang 6. Đặc biệt năm 2004 - 2005 giải quyết đơn thư về quản lý tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng và đơn thư về cải tạo nâng cấp Quốc lộ 47.

Xuất phát từ tình hình trên, Đảng ủy đã kiên quyết chỉ đạo công tác kiểm tra làm sáng tỏ sự việc. Đến năm 2006, đã phải xử lý kỷ luật từ cảnh cáo đến khai trừ 5 đảng viên cán bộ, trong đó 1 đồng chí Đảng ủy viên bị cách chức, 1 đồng chí Phó Bí thư chi bộ bị khai trừ.

Từ những kết quả của việc làm trên đã góp phần tạo niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền và sự chủ động sáng tạo của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, xây dựng thế và lực mới để Đảng bộ và nhân dân tiếp tục xây dựng quê hương trong những năm tiếp theo

2. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tiếp tục đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới ( 2005 - 2010)

Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường bước vào thực hiện kế hoạch giai đoạn này trong điều kiện xã hội có nhiều thuận lợi. Gần 20 năm tiến hành đổi mới đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín nước ta trên trường quốc tế. Mọi tư tưởng hoài nghi, dao động của một số ít cán bộ, đảng viên về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội bị đẩy lui, nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thành tựu đổi mới ở địa phương cũng thu được kết quả tốt đẹp. Đây là những điều kiện quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường tiếp tục xây dựng quê hương giàu mạnh.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã, Thọ Cường đã đạt được những thành tích trên nhiều lĩnh vực. Để tiếp tục phấn đấu vì mục tiêu xây dựng quê hương giàu mạnh trong giai đoạn mới, ngày 28 tháng 7 năm 2005, với sự có mặt 159 đảng viên trong tổng số 188 đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự, Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI được tổ chức. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 11 đồng chí. Ban Thường vụ gồm 3 đồng chí, đồng chí Lê Văn Long được bầu giữ chức Bí thư Đảng ủy, đồng chí Lê Đình Cường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã được bầu làm Phó Bí thư. Đồng chí  Đặng Quyết Chí làm Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy.

Với tinh thần trách nhiệm cao, Đại hội đã nghiêm túc đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần trước, rút ra những bài học thành công, cũng như nguyên nhân yếu kém để khắc phục.

Đại hội đã đề ra mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ là: Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, chủ động tận dụng mọi thời cơ, vận hội, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên trong và bên ngoài để làm chuyển biến một bước cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề dịch vụ tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội, củng cố đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo ra thế và lực mới để từ năm 2010 có bước phát triển nhanh hơn.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động, giá cả vật tư tăng nhanh, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cán bộ và nhân dân Thọ Cường đoàn kết một lòng, vượt mọi khó khăn, chủ động, sáng tạo trong sản xuất, từng bước đưa quê hương tiếp tục phát triển. Nhiều chỉ tiêu quan trọng Đại hội đề ra đều đạt: Năng suất đạt 50 - 65 tạ/ha, tổng sản lượng 2.800 tấn, bình quân đầu người đạt 550 kg. Từ năm 2006, trồng trọt đã có nhiều chuyển biến tiến bộ, diện tích mía được mở rộng gần 40 ha, diện tích trồng dâu nuôi tằm năm 2005 - 2007 đạt 35 ha. Thời điểm đầu người trồng dâu nuôi tằm có thu nhập khá, địa phương đã cùng ngân hàng chính sách đầu tư 50 triệu đồng vào trồng dâu. Song cuối năm 2007 do đầu ra của sản phẩm gặp khó khăn nên diện tích này cơ bản chuyển sang trồng mía và các cây màu khác.

Trong chăn nuôi đã phát triển hàng chục gia trại, duy trì và phát triển đàn trâu bò từ 780 - 820 con; đàn lợn nái từ 800 - 850 con; đàn lợn thịt từ 2.500 -3.000 con; đàn gia cầm đạt 27.000 con. Riêng năm 2008 dịch tai xanh ở lợn bùng phát trên diện rộng, địa phương đã tổ chức dập dịch và tiêu hủy hơn 40 tấn lợn. Hậu quả đã gây khó khăn cho việc phát triển đàn lợn, đặc biệt là đàn lợn nái, ảnh hưởng thu nhập của nhân dân .

Để từng bước tạo điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, năm 2007 Đảng bộ đã chỉ đạo tiếp tục dồn điền đổi thửa lần 2 mục tiêu mỗi hộ chỉ còn từ 2 - 3 thửa. Đồng thời luân chuyển đất đai phù hợp với địa bàn từng thôn và giành quỹ đất xây dựng các công trình phúc lợi xã hội.

Kinh tế phát triển, bộ mặt làng quê cũng đổi mới hàng ngày, nhiều công trình như: trường học, giao thông và nhiều công trình phúc lợi được xây dựng. Đến năm 2010, đã cơ bản cứng hóa toàn bộ tuyến đường liên xã, mở rộng đường làng ngõ xóm bằng tinh thần ủng hộ, hiến đất, hiến công trình của nhân dân, phong trào được nhân rộng trong toàn xã. Xây dựng được 3 nhà văn hóa thôn (thôn 1, thôn 3, thôn 9) trị giá gần 400 triệu đồng. Xây dựng sân khấu ngoài trời, nhà xe công sở và sân bóng chuyền công sở trị giá hơn 100 triệu đồng. Kinh phí xây dựng chủ yếu là do dân đóng góp, có một phần hỗ trợ của xã.

 Lãnh đạo địa phương đã liên hệ để được đầu tư giải nhựa 3,2 km đường liên xã tuyến quốc lộ 47 xã Thọ Dân đi Xuân Thọ, qua xã Thọ Cường, lên Xã Thọ Sơn nối tuyến đường 514 đi Sao Vàng. Hoàn thành cơ bản dự án nâng cấp 1,6 km đường quốc lộ 47 đi qua địa bàn xã. Tiến hành xây dựng cống tưới tiêu của 9 thôn, bai đập đồng sâu và đắp giao thông nội đồng để các phương tiện vận tải nhỏ lưu thông được, trị giá hàng tỷ đồng. Kinh phí bai đập do Nhà nước đầu tư còn lại do nhân dân tự nguyện đóng góp. Kết quả này đã góp phần giải phóng sức lao động đồng thời có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, từ năm 2008 – 2010, bằng sự quyết tâm của nhân dân và Đảng bộ địa phương đã xây dựng trường tiểu học 2 tầng trị gíá hơn 1 tỷ đồng, trường mầm non hơn 2 tỷ đồng. Hai công trình này được thực hiện bằng dự án đối ứng, tạo sự động viên khích lệ cho sự nghiệp giáo dục xã nhà, từng bước lấy lại lòng tin của nhân dân đối với Đảng bộ và đội ngũ cán bộ địa phương.

Cùng với sự lãnh chỉ đạo khai trương xây dựng làng văn hóa là việc nâng cao chất lượng làng văn hóa. Chủ động tích cực tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, đến năm 2010 đã khai trương xây dựng được 8 trong tổng số 9 làng văn hóa, có 5 làng được công nhân làng văn hóa cấp Huyện.

Năm 2005, đã tổ chức thành lập Câu lạc bộ thơ của Hội Người cao tuổi mang tên “Hương chiều” đến năm 2010 đã cho ra đời 3 tập thơ với chủ đề ca ngợi quê hương, đất nước ca ngợi Đảng, Bác hồ kính yêu, ca ngợi con người Thọ Cường, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống xã hội.

Phong trào văn hóa văn nghệ thể dục thể thao được duy trì và phát triển tốt, nhất là vào các dịp lễ tết thường xuyên giao lưu với các đơn vị bạn và các đợt hội diễn, hội thao do cấp trên tổ chức.

Từ năm 2007, kết hợp với phong trào khuyến học hàng năm tổ chức hoạt động hè cho các cháu như cắm trại tổ chức các trò chơi dân gian….tạo sân chơi bổ ích cho lứa tuổi học đường, đồng thời cuốn hút được cả hệ thống chính trị và cộng đồng dân cư chăm lo cho thế hệ trẻ. Cũng từ năm 2007, Đảng ủy đã chỉ đạo sưu tầm tư liệu, liên hệ với các cơ quan chức năng tiến hành các bước để được công nhận di tích lịch sử khu lưu niệm hội văn học nghệ thuật Việt Nam thời kỳ (1947-1954) tại làng Quần Tín.

Quán triệt quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Đảng bộ luôn quan tâm sự nghiệp giáo dục, nhà trường 3 cấp học đều được xây dựng khang trang, đội ngũ giáo viên ngày càng chuẩn hóa. Đầu năm 2008, Đảng ủy đã phát động phong trào khuyến học, khuyến tài lên một tầm cao mới với tiêu đề “Tiếng vọng mùa xuân” được tổ chức vào mùng 3 tết hàng năm. Khởi đầu vào mùng 3 tết năm 2008 được cán bộ và nhân phấn khởi hưởng ứng. Được sự quan tâm của cấp trên đặc biệt là sự hướng về quê hương của con em Thọ Cường đang sống ở mọi miền tổ quốc. Đặc biệt là sự đồng hành cùng Hội Khuyến học của gia đình Đồng chí Thanh ở thôn 6 và cá nhân anh Lê Đình Thọ đã tạo nên một bước nhảy vọt cả về lượng và chất trong phong trào giáo dục của xã nhà. Cũng từ “Tiếng vọng mùa xuân” đã khích lệ động viên tích cực đối với các thầy giáo cô giáo và các cháu học sinh. Phong trào càng có hiệu quả hơn khi Hội Khuyến học đề ra “Phong trào tự quản tiếng trống học đêm” . Phong trào đi vào hoạt động đã làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức của mọi người trong việc chăm lo cho sự nghiệp trồng người, xây dựng ý thức tự giác trong học tập của các cháu.

Phong trào đã được tiếp sức với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các đoàn thể đã cùng Hội Khuyến học xây dựng các chương trình hoạt động phối hợp có hiệu quả và ý nghĩa. Tác động của phong trào tự quản tiếng trống học đêm, không những xây dựng được ý thức chung trong sự nghiệp giáo dục mà còn có ảnh hưởng tích cực đến tình hình an ninh chính trị trong thôn xóm. Tất cả các yếu tố trên đã tạo nên chất lượng giáo dục ngày càng cao.

     Công tác quốc phòng – an ninh được Đảng bộ quan tâm lãnh đạo.       Lực lượng công an thường xuyên tổ chức tuần tra canh gác bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn, xử lý có hiệu quả các vụ việc xảy ra, cùng công an huyện làm tốt công tác trật tự giao thông, phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ đảm bảo an toàn, trật tự cho các hoạt động lớn của địa phương nhân dịp lễ hội và các sự kiện chính trị lớn trong xã. Trong 10 năm (2000 - 2010) đã kịp thời giải quyết 127 vụ, 7 vụ chuyển huyện giải quyết .

Công tác quốc phòng có nhiều cố gắng, hàng năm địa phương đều hoàn thành chỉ tiêu giao quân, giai đoạn 2006 - 2010 đã tổ chức 28 thanh niên lên đường nhập ngũ. Phối hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng các cụm tuyến phòng thủ, đảm bảo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra. Công tác quốc phòng luôn được huyện đánh giá hoàn thành nhiệm vụ ở mức khá.

Công tác xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng. Đảng đã lãnh chỉ đạo kiện toàn bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể, trước hết là xây dựng sắp xếp bố trí đội ngũ cán bộ đủ trình độ năng lực, phẩm chất chính trị và các vị trí chủ chốt nhằm đảm bảo bộ máy hoạt động tốt nhất, đồng thời cũng kiên quyết xem xét, xử lý kỷ luật đối với những cá nhân, tập thể có sai phạm, giữ vững kỷ cương, nâng cao chất lượng điều hành, quản lý. Xây dựng chính quyền và các đoàn thể trong sạch vững mạnh, gắn mọi hoạt động với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Đảng bộ luôn quan tâm giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên. Quán triệt, học tập Nghị quyết Đảng lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ, Nghị quyết Đại hội Huyện Đảng bộ đến cán bộ Đảng viên, triển khai và tổ chức thực hiện. Đặc biệt giai đoạn 2007 - 2010 Ban Tuyên giáo xã cùng Ban Tuyên giáo huyện ủy tổ chức học tập các chuyên đề về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, mỗi cán bộ Đảng viên phải đăng ký mỗi năm ít nhất 1 nội dung “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc làm này đã trở thành phong trào rộng khắp từ khi thực hiện cuộc vận động đã xuất hiện nhiều tổ chức, cá nhân điển hình, tiên tiến nhiều tấm gương sáng trong tu dưỡng đạo đức và rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Bác hồ.

Dù đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế, xã hội, nhiệm kỳ 2005 - 2010 xảy ra các tiêu cực làm ảnh hưởng uy tín của Đảng bộ. Đây là thời điểm có nhiều đơn thư khiếu kiện tố cáo cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng về quản lý tài chính, ngân sách, về tính công khai, minh bạch trong thực hiện xây dựng cơ sở vật chất và cải tạo nâng cấp Quốc lộ 47. Sự kiện trên khiến năm 2007 phải xử lý nhiều cán bộ, đảng viên. Một số vị trí là đại biểu hội đồng nhân dân bị bãi nhiệm, miễn nhiệm. Có 2 cán bộ là đảng viên, 1 cán bộ là quần chúng phải truy tố trước pháp luật, tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ bị xử lý bằng hình thức khiển trách, tập thể Ban Thường vụ bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo. Trước tình hình trên Huyện ủy đã cùng Đảng bộ kiện toàn lại Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã. Đồng chí Đặng Quyết Chí được bầu làm Bí thư; đồng chí Phạm Xuân Kỳ làm Chủ tịch UBND xã; đồng chí Nguyễn Thị Thanh làm Ủy viên Ban Thường vụ - Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã; đồng chí Lê Văn Cường làm Trực Đảng ủy.

Sau khi kiện toàn ổn định tổ chức Đảng ủy đã cùng các tổ chức trong hệ thống chính trị đã xây dựng quyết tâm tăng cường sức chiến đấu của Đảng, phát huy tính sáng tạo của các tổ chức, nhất là UBND trong quản lý điều hành các hoạt động của địa phương, nêu cao tính dân chủ công khai minh bạch nên đã từng bước lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng bộ và đội ngũ cán bộ bằng những việc làm cụ thể, vì vậy từ năm 2007 - 2010 cũng là thời gian làm được nhiều việc có giá trị kinh tế lớn, tạo tiền đề để Thọ Cường phát triển đi lên trong những năm tới với nhiều ước hẹn mới tốt đẹp hơn.

 3 – Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới CNH - HĐH đất nước gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới  Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường bước vào thực hiện nhiệm vụ chính trị giai đoạn này bằng một sự kiện quan trọng, được sự chỉ đạo của Huyện ủy Triệu Sơn, ngày 4 tháng 5 năm 2010, Đại hội Đảng bộ Thọ Cường Khóa XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 được tổ chức trọng thể tại hội trường của xã, với sự có mặt của 162 trong tổng số 192 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đại hội đã đề cao tính tự phê bình và phê bình nghiêm túc để kiểm điểm đánh giá đúng và khách quan những thành quả đã đạt được, đồng thời chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm, xác định rõ nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ mục tiêu nhiệm kỳ 2010 - 2015. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 11 đồng chí, trong đó Ban thường vụ gồm:

- Đồng chí Nguyễn Thị Thanh làm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã;

- Đồng chí Phạm Xuân Kỳ Phó Bí thư làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã;

- Đồng chí Lê Văn Cường làm Phó Bí thư thường trực Đảng ủy;

  Đại hội đã đề ra phương hướng tổng quát khóa XVII là: “Phát huy tối đa thành quả đã đạt được, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, giữ vững ổn định chính trị; tranh thủ thời cơ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài địa phương, nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các cánh đồng thâm canh năng xuất, chất lượng cao; đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển ngành nghề; xây dựng và phát triển mô hình gia trại, trang trại, chú trọng tiềm năng vườn đồi, gắn phát triển kinh tế với công bằng xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục tạo nguồn nhân lực có tri thức cho quê hương; củng cố an ninh – quốc phòng; xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, phát huy sự năng động sáng tạo của hệ thống chính trị, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo thế và lực mới để từng bước xây dựng xã nhà ngày càng văn minh, giàu đẹp.

Để đạt được mục tiêu Đại hội Đảng bộ khóa XVII, Đại hội  đề ra các chỉ tiêu chủ yếu để lãnh đạo nhân dân thực hiện:

- Tổng sản lượng lương thực bình quân đạt 2.800 tấn/năm; bình quân đầu người đạt 550kg/người/năm; tăng trưởng bình quân đạt 6,5 %/năm.

- Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng đường, mương bê tông nội đồng, tổ chức thực hiện bê tông hóa đường giao thông nông thôn.

- Tiếp tục xây dựng hoàn thành trường Mầm Non đưa vào sử dụng năm học 2010 – 2011;

- Trường Tiểu học và trung học cơ sở giữ vững danh hiệu tiên tiến cấp huyện, phấn đấu đạt tiên tiến cấp tỉnh.

- Khai trương xây dựng làng văn hóa xóm 2, khai chương xây dựng xã văn hóa.

- Liên hệ để được dự án xây dựng công sở và dự án xây dựng nhà bia ở làng Quần Tín.

- Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng, củng cố lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên vững chắc sẳn sàng thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

- Mỗi năm, mỗi chi bộ kết nạp được 1 đảng viên mới trở lên; bình xét hàng năm có từ 70% đảng viên hoàn thành xuất sắc và hoàn thành tốt nhiệm vụ, phấn đấu 70% chi bộ trở lên và Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh.

Sau Đại hội, cán bộ và nhân dân trong xã dấy lên một tinh thần thi đua sôi nổi. Từ kết quả đạt được những năm cuối nhiệm kì trước (2007 – 2010) đã tạo niềm tin tưởng, phấn khởi, tạo động lực mới để cán bộ và nhân dân vượt mọi khó khăn thử thách, hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội mà Đại hội Đảng bộ đề ra.

Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế là trọng tâm, Đảng ủy đã có những chủ trương sát đúng, linh hoạt phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ và nguồn thu nhập từ lao động đi làm ăn xa. Từ năm 2010 đến nay, diện tích gieo cấy vẫn cơ bản ổn định, trong đó: vụ chiêm xuân 205 ha, vụ 10 là 180 đến 185 ha, đã đưa cây lúa lai vào sản xuất đại trà chiếm trên 90% diện tích gieo cấy, cho năng suất, chất lượng cao. Mặc dù thời tiết thất thường song địa phương liên tục được mùa, bình quân hàng năm từ 60 đến 70 tạ/ha, sản lượng lương thực bình quân hàng năm là 2.800 tấn. Tăng dần hiệu quả kinh tế vụ đông, cải tạo vườn tạp, trồng được 13 ha mía, đưa cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất năm 2013 được 17 ha,

Cùng với phát triển sản xuất, công tác chăn nuôi được chú trọng. Duy trì đàn gia súc gia cầm, bình quân mỗi năm có: 470 con trâu bò, 3.700 con lợn,  28.000 con gia cầm. Địa phương đã thành lập được một trang trại cấp tỉnh, 2 gia trại cấp huyện và nhiều gia đình chăn nuôi gia trại theo hướng tổng hợp phát triển kinh tế hộ gia đình.

Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh buôn bán, thợ nề, dịch vụ phục vụ nông nghiệp, vận tải… trong nhân dân được duy trì và có chiều hướng phát triển tốt. Đến nay trong toàn xã có trên 100 cửa hàng dịch vụ quy mô gia đình, có hộ vốn đầu tư kinh doanh lên đến nhiều tỷ đồng. Toàn xã có trên 10 xe ô tô vận tải, xe khách, trên 20 máy cày bừa và máy xay xát, cùng với các nguồn tài chính của lực lượng lao động đi làm ăn xa đã góp phần đáng kể tăng thu nhập trong nhân dân…

Nhìn chung, từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự ổn định an ninh chính trị của địa phương đã tạo điều kiện tốt cho kinh tế xã Thọ Cường ngày thêm đổi mới. Nhiều nhà kiên cố cao tầng trong nhân dân được xây dựng, các vật dụng, phương tiện sản xuất, kinh doanh đắt tiền trong nhân dân được mua sắm, tích cực đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi. Đến nay trong toàn  xã chỉ còn 8,9% hộ nghèo đó là thành quả từ sự nỗ lực của nhân dân thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra trên lĩnh vực kinh tế.

Tiếp thu và thực hiện Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 1 tháng 4 năm 2009, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1342/QĐ – UBND, ngày 27 tháng 6 năm 2010 của Ủy ban nhân dân huyện Triệu Sơn, Đảng ủy đã tổ chức quán triệt và tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã nhận thức đầy đủ sâu sắc, ý nghĩa, tầm quan trọng chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Nhằm xây dựng những gì tốt đẹp nhất, thiết thực nhất mà người hưởng lợi là nhân dân, chủ thể xây dựng là nhân dân, nguồn lực chủ yếu là nhân dân, dưới sự định hướng lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước các cấp.

   Nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ, tạo được niềm tin trong nhân dân, xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào cách mạng rộng khắp, thành động lực to lớn cuốn hút hết thảy cán bộ, quần chúng nhân dân vào cuộc. Đặc biệt là phong trào hiến đất mở đường, đóng góp, ủng hộ làm đường bê tông nông thôn, kênh mương nội đồng, kiên cố trường lớp học. Tính đến năm 2013, chỉ trong 3 năm nhân dân đã hiến 38.120 m2 đất thổ cư, tháo gỡ 18.160 m2 tường rào xây, tháo gỡ 22 quán và bán bình, đốn chặt nhiều cây cối hoa màu khác, giá trị vật chất lên đến nhiều tỷ đồng và giá trị về tinh thần là rất lớn. Với khí thế và thời cơ cho phép, Đảng bộ tiếp tục chỉ đạo nhân dân phát huy nội lực tiến hành bê tông đường nội thôn, tính đến tháng 8 năm 2014, toàn xã đã thi công được 9,317 km đường trị giá gần 7 tỷ đồng, 100% từ nguồn đóng góp của nhân dân, trong đó có  trên 300 triệu ủng hộ ngoài chỉ tiêu đóng góp của nhân dân trong xã do con em xa quê gửi về. Cùng với thành quả làm đường bê tông nông thôn, kế hoạch làm đường, mương bê tông nội đồng đã thực hiện được 3 km đường, 5,2 km mương phục vụ cho sản xuất, bằng nguồn đối ứng Nhà nước và nhân dân cùng làm, song chủ yếu là nhân dân đóng góp.

Bốn năm đầu nhiệm kỳ 2010 - 2015 là mốc thời  điểm công cuộc xây dựng các công trình phúc lợi tốt độ cao nhất từ trước đến nay. Sau khánh thành xây dựng trường Tiểu học 2 tầng năm 2009, xã tiếp tục vận động nhân dân đóng góp đối ứng xây dựng trường Mầm Non trị giá trên 2 tỷ đồng đưa vào sử dụng năm học 2010 - 2011. Tháng 3 năm 2011, lắp đặt hệ thống truyền thanh không dây chào mừng sự kiện chính trị trọng đại “bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016”, công trình trị giá gần 200 triệu đồng, trong đó 50% nhân dân đóng góp 50% tiết kiệm từ ngân sách xã. Năm 2012 – 2013, “nhân dân hiến đất mở rộng đường làm cơ sở xây dựng, phát triển trong hiện tại và tương lai”; làm đường, mương bê tông nội thôn, nội đồng trị giá gần 20 tỷ đồng; năm 2013 xây dựng khánh thành khu nhà hiệu bộ và một số hạng mục đảm bảo chuẩn quốc gia ở trường Tiểu học trị giá gần 1 tỷ đồng. Cũng trong năm 2013 hoàn thành xây dựng bếp ăn bán trú trường Mầm non đưa vào sử dụng năm học 2013 - 2014 với trị giá gần 200 triệu đồng, 100% nhân dân đóng góp.

Trên cơ sở yêu cầu các tiêu chí, đến hết năm 2013 xã Thọ Cường đã đạt được 10/18 tiêu chí (xã không tính tiêu chí chợ).

Văn hóa – văn nghệ, thể dục thể thao luôn được chú trọng và hoạt động có hiệu quả. Vào các dịp lễ tết thường có các hoạt động như: tổ chức mừng Đảng, mừng xuân, mừng thọ người cao tuổi, hoạt động hè, kỷ niệm ngày thương binh liệt sỹ 27 tháng 7, ngày Quốc khánh 2 tháng 9, tết trung thu và ngày hội đoàn kết toàn dân.

Hòa trong phong trào văn hóa văn nghệ, câu lạc bộ thơ  được duy trì hoạt động với các tác giả không chuyên, với tinh thần nhiệt huyết thể hiện sinh động đời sống nhân dân và các phong trào thi đua ở địa phương mang bản sắc làng quê.

Công tác chính sách xã hội luôn được Đảng bộ quan tâm lãnh đạo, thực hiện đúng hướng dẩn của các cấp có thẩm quyền như: Quyết định 142, Quyết định 62 của chính phủ, Quyết định 24 đối với người tham gia kháng chiến và phục vụ kháng chiến. Có 5 gia đình hội viên cựu chiến binh, hội thanh niên xung phong được hỗ trợ làm nhà ở với số tiền 50 triệu đồng mỗi hộ; xét đề nghị tặng và truy tặng danh hiệu bà mẹ Việt nam anh hùng cho 7 bà mẹ.

Đặc biệt từ truyền thống lịch sử văn hóa cách mạng thời kỳ 1947 – 1954 làng Quần Tín, ngày 31 tháng 1 năm 2013 đã được UBND Tỉnh ra quyết định công nhận xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp tiỉnh. Tiếp tục cung cấp hồ sơ đề nghị các cấp có thẩm quyền công nhận khu di tích văn hoá cách mạng kháng chiến là di tích cấp Quốc gia và cho xây dựng nhà bia, khu lưu niệm làm địa chỉ đỏ về nguồn giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau. 

   Đảng bộ chú trọng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục, chất lượng giảng dạy và học tập 3 trường tiếp tục được chú trọng nâng cao, chất lượng đại trà luôn tốp đầu trong cụm

Học sinh đậu đại học, các trường chuyên nghiệp, học sinh khá giỏi cao hơn năm trước, từ năm 2010 đến nay có 62 học sinh đậu đại học, 30 Học sinh đậu cao đẳng, trên 50 học sinh đậu trung cấp; 1.172 học sinh tiên tiến, 402 học sinh giỏi trường, 253 học sinh giỏi huyện; 51 học sinh giỏi tỉnh; năm học 2012 - 2013 học sinh đậu vào trường Trung Học phổ thông Triệu Sơn 4 cao nhất cụm, đạt 94%.

Trong thời kỳ này hoạt động khuyến học, phong trào “tự quản tiếng trống học đêm” là nét văn hóa giáo dục đặc trưng ở quê hương Thọ Cường. Ngày 10 tháng 8 năm 2010, Đảng ủy đã có Nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo phong trào khuyến học kết hợp công tác an ninh trật tự đã có nhiều ý nghĩa sâu sắc tác động tốt đến mọi mặt đời sống trong nhân dân. Phong trào ngày càng đi vào chiều sâu được đông đảo nhân dân ủng hộ. Gia đình ông Lê Văn Thanh ở làng Quần Tín cam kết đồng hành cùng phong trào trước mắt giai đoạn 10 năm (2008 - 2018), tính đến nay gia đình đã ủng hộ phong trào trên 400 triệu đồng, 3 dàn máy vi tính, 1.000 đầu sách cho thư viện chuẩn quốc gia trường Tiểu Học. Phong trào tự quản có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ xã đến thôn, gồm 47 tổ tự quản, 12 chi hội, và ban chấp hành toàn xã. Đội ngũ cán bộ hoạt động tự nguyện không có phụ cấp, từ ngày thực hiện phong trào đến nay thành tích giáo dục được tăng lên hàng năm, đồng thời góp phần tích cực giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội thôn xóm. Phong trào đã được các cấp và Trung ương hội tặng Bằng khen và nhiều kỷ niệm chương cho một số cá nhân đã có thành tích xuất sắc hoạt động  phong trào.

Công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân luôn được chú trọng. Hàng năm khám định kỳ và chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em, người cao tuổi. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức 18,%/năm, tỷ lệ gia tăng dân số  0,75%/năm, không có các dịch bệnh lớn xảy ra.

Công tác quốc phòng – an ninh luôn đạt kết quả tốt. Hàng năm luôn hoàn thành kế hoạch huấn luyện dân quân tự vệ. Trong 4 năm (2011 – 2014) đã có 33  thanh niên lên đường làm nghĩa vụ quân sự, có 9 đồng chí đã được kết nạp Đảng trong quân đội, ghi tiếp truyền thống vẻ vang của xã nhà. Thực hiện tốt công tác hậu phương quân đội, các nhiệm vụ phối hợp đều hoàn thành tốt được Huyện đội, Tỉnh đội, Quân khu đáng giá cao và khen thưởng 3 năm liên tục (2010 – 2013).

Công tác an ninh cơ bản được giữ vững, thường xuyên tuần tra canh gác đảm bảo an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, thực hiện hướng dẫn của cấp trên kiện toàn, phát huy hoạt động của tổ tự quản an ninh xã hội, không có các vụ việc nghiêm trọng xảy. Từ kết quả trên công tác an ninh năm 2012, 2013 đã được huyện, tỉnh khen.  

Về lãnh đạo xây dựng chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Với quan điểm nhất quán: “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ” thông qua phong trào MTTQ, các tổ chức đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân tổ chức thực hiện. Đảng bộ đã bằng nhiều hình thức quán triệt, chuyển tải các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước trong hệ thống chính trị đến toàn thể nhân dân, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống thành hành động cách mạng của quần chúng.

Trong nhiệm kì này, Đảng bộ đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc Hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016. Bầu đủ số đại biểu Hội đồng nhân dân xã theo luật định. Hội đồng nhân dân đã bầu đồng chí Nguyễn Thị Thanh làm Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã; đồng chí Phạm Xuân Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Hoạt động chính quyền ngày càng phát huy tốt hiệu quả quản lý, điều hành, có những tiến bộ thể hiện kết quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, việc xem xét giải quyết các vấn đề không để vụ việc phức tạp, kiện cáo mới xảy ra. Ngày 15 tháng 8 năm 2013, tổ chức hội nghị kiện toàn, chuyển đổi mô hình hoạt động hợp tác xã nông nghiệp.

Về công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương IV (khóa XI) về “Những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay” và đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

 Đảng uỷ đã tổ chức cho đảng viên nghiên cứu, học tập, quán triệt Chỉ thị 03/ CT-BCT về tăng cường thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, chỉ đạo việc sơ kết tổng kết Đảng bộ, chi bộ, gắn với các tấm gương điển hình, thành tích cụ thể về làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với chủ đề hàng năm. Qua kết quả làm theo đã có nhiều tấm gương sáng mẫu mực tác động tích cực đến các phong trào của địa phương, trong đó có 598 hộ hiến đất, mỗi một tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia ủng hộ làm đường bê tông, phong trào khuyến học khuyến tài và nhiều việc làm tốt khác.

Do đạt được nhiều thành tích trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng bộ và nhân dân xã Thọ Cường được Ủy ban nhân dân Tỉnh tặng bằng khen.

Nhiệm vụ lãnh đạo xuyên suốt của Đảng bộ trong nhiệm kỳ khóa XVII là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; xây dựng chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm làm chuyển biến tích cực, phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Ngay sau khi tiến hành Đại hội Đảng các cấp, Đảng bộ triển khai quán triệt sâu rộng trong Đảng, trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, đồng thời gắn liền với việc kiểm tra thực hiện Điều lệ Đảng, quy định những điều Đảng viên không được làm, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, qua đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm đảng viên với chức năng “hạt nhân lãnh đạo” và vai trò đầu tầu gương mẫu phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ.

Đảng bộ thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI,  từ những đánh giá thực trạng tình hình chất lượng đội ngũ đảng viên, kết quả trong việc thực hiện nghị quyết đã nêu cao hơn nữa tính tự phê và phê bình vừa thể hiện được tính chiến đấu trong sinh hoạt Đảng, vừa củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng.

 Đảng bộ luôn xác định và nhận thức đúng đắn về công tác tư tưởng đóng vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, liên tục của Đảng bộ. Đảng ủy đã xây dựng kế hoạch triển khai học tập nghị quyết và xây dựng chương trình hành động kịp thời theo quy định của cấp trên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương. Gắn với chương trình công tác kiểm tra, giám sát về thực hiện Điều lệ Đảng và quy định “những điều Đảng viên không được làm”. Việc triển khai học tập, kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương IV, đảm bảo thời gian, chất lượng mục đích yêu cầu và đã tác động mạnh mẽ đến công tác tư tưởng, động viên khích lệ tinh thần nhân dân tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng; thường xuyên quan tâm nắm bắt diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; định hướng dư luận, đấu tranh với các biểu hiện tư tưởng lệch lạc sai trái trong nhận thức và hành động, luôn nên cao tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Khóa XVII về sưu tầm biên soạn lịch sử Đảng, ngày 10 tháng 8 năm 2010, Đảng ủy Thọ Cường ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo, sưu tầm và biên soạn lịch sử Đảng bộ xã nhà làm cơ sở giáo dục truyền thống lịch sử Đảng, tăng cường, củng cố hơn về tư tưởng chính trị, xây dựng Đảng bộ xã nhà ngày càng trong sạch vững mạnh.

Sau thành công Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 – 2015, công tác tổ chức dần đi vào ổn định. Kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị. Hoàn thành quy hoạch nguồn A1, A2 theo hướng dẫn của Ban tổ chức Huyện ủy. Cử đi đào tạo về lý luận, chuyên môn cán bộ đương nhiệm và trong nguồn quy hoạch đáp ứng yêu cầu về công tác cán bộ trong tình hình mới. Trong đó, 1 đồng chí tốt nghiệp lớp Trung cấp lý luận, 4 đồng chí hoàn thành khóa học lớp Trung cấp Hành chính, 6 đồng chí đang vừa làm vừa học chuyên môn đại học; bồi dưỡng tạo nguồn xét giới thiệu 23 quần chúng ưu tú đi học lớp nhận thức về Đảng.

Qua quá trình phấn đấu đã xét kết nạp cho 13 đồng chí, nâng đảng số Đảng bộ lên 208 đồng chí (57  đồng chí nữ,  151 đồng chí nam) tăng 17 đồng chí so với đầu nhiệm kỳ.

Công tác phân loại đảng viên, tổ chức Đảng hàng năm được thực hiện nghiêm túc, trung bình có 22 % đảng viên hoàn thành suất sắc nhiệm vụ, 77% hoàn tốt nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ, 0,1% chưa hoàn thành nhiệm vụ, có 3 đảng viên bị kỷ luật hình thức cảnh cáo; có 80% chi bộ trong sạch vững mạnh, không có chi bộ yếu kém. Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu.

Qua 4 năm đầu nhiệm kỳ 2010 – 2015 đến nay Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân thực hiện Nghị quyết Đại hội các cấp và đại hôi lần thức XVII của Đảng bộ Thọ cường đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Một số các chỉ tiêu nhiệm vụ nhiệm kỳ đã được hoàn thành sớm hơn so với thời gian đại hội đề ra. Diện mạo quê hương có nhiều đổi mới tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Văn hóa xã hội được phát triển, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tổ chức Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết, đồng thuận trong Đảng, trong nhân dân, củng cố giữ vững và nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân với Đảng.

Gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, kinh tế xã hội ở Thọ Cường có bước phát triển vượt bậc. Trong quá trình ấy, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã trải qua muôn vàn khó khăn do thiên tai, dịch bệnh liên tục đe doạ, xuất phát điểm kinh tế, đời sống nhân dân còn thấp, văn hoá xã hội còn lạc hậu, tình hình kinh tế thế giới khó khăn, nhưng với khí thế tiến công cách mạng, với bản lĩnh của một Đảng bộ đã từng kinh qua nhiều năm chiến đấu gian khổ, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân vượt qua thử thách, đi từ thắng lợi này đến tháng lợi khác. Trên mặt trận nông nghiệp thu được kết quả khá toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, vừa coi trọng thâm canh cây lúa, vừa đẩy mạnh sản xuất vụ đông. Từ một xã sản xuất độc canh cây lúa, đến nay kinh tế Thọ Cường khá đa dạng, nguồn thu từ ngành nghề, dịch vụ, thương mại, việc làm tăng nhanh. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên, diện mạo nông thôn đổi mới từng ngày, văn hoá, xã hội có bước phát triển mới, an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, hệ thống chính trị của địa phương được củng cố. Đó là những đóng góp quan trọng của Đảng bộ trong tiến trình cách mạng ở địa phương góp phần xây dựng quê hương Thọ Cường ngày càng giàu mạnh, cuộc sống ngày càng văn minh, ấm no, hạnh phúc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                              Kết luận.

 

Hơn tám mươi năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, hơn sáu mươi năm, kể từ khi Chi bộ Đảng, rồi Đảng bộ ra đời, sự nghiệp cách mạng trên đất Thọ Cường đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, lật đổ chế độ thực dân phong kiến, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân, dựng xây quê hương giàu mạnh, góp phần cùng cả nước đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Là một trong những địa phương có nền văn hoá phát triển, nhân dân Thọ Cường kết tụ được nhiều truyền thống quý báu, mang đậm bản sắc văn hoá của nền văn minh lúa nước. Đó là: tính nhân hậu, thật thà, nặng tình làng nghĩa xóm, đức tính chịu thương, chịu khó, cần cù, sáng tạo trong lao động, học tập, là lòng yêu quê hương, đất nước nồng nàn.

Vùng quê ấy đã có biết bao những người nông dân áo vải nghe hịch Cần Vương, đứng lên cứu nước, cứu nhà. Truyền thống yêu nước và bản chất cách mạng của nhân dân là mảnh màu mỡ cho những “hạt giống đỏ” nãy mầm. Từ khi có Đảng lãnh đạo, phong trào cách mạng ở Thọ Cường phát triển mạnh mẽ, đóng góp xứng đáng vào phong trào cách mạng chung của huyện Thọ Xuân.

Trong Cách mạng Tháng Tám, theo lời Đảng gọi, nhân dân Thọ Cường đã nhất tề dứng dậy, phá tan ách xiềng gông của chế độ phong kiến, thực dân, lập nên chế độ dân chủ nhân dân.

Trải qua chặng đường đấu tranh vô cùng gian khổ và quyết liệt, Đảng bộ Thọ Cường đã từng bước vươn lên xây dựng tổ chức, rèn luyện đảng viên và lãnh đạo nhân dân làm nên những thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Từ tổ Đảng gồm 4 đảng viên đến việc thành lập Chi bộ, Đảng bộ Thọ Cường với hơn hai trăm đảng viên liên tục đạt danh hiệu Đảng bộ Trong sạch vững mạnh là cả một quá trình dựng xây, phấn đấu và trưởng thành. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, các tổ chức Đảng và các đồng chí đảng viên cũng giữ được phẩm chất của mình, luôn là lực lượng tiên phong, giữ vai trò lãnh đạo cách mạng của quê hương Thọ Cường.

Trong cuộc hành trình 30 năm tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ của cả nước, Thọ Cường đã xây dựng lực lượng dân quân vững mạnh, hàng chục năm liên tục giữ vững danh hiệu đơn vị quyết thắng, sẵn sàng giáng trả bất cứ kẻ thù nào dám liều lỉnh đến cướp phá, đóng góp sức người, sức của, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Để rồi, đến khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc - Nam xum họp một nhà, Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường đã vinh dự được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý, như Huân Chương, Huy chương, Bằng khen...

Sáu mươi năm xây dựng và trưởng thành Đảng bộ Thọ Cường đã rút ra những bài học kinh nghiệm:

Một là: Luôn luôn xác định công tác xây dựng Đảng là then chốt.

Đảng bộ vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, vừa chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, củng cố chính quyền và các tổ chức quần chúng vững mạnh, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ từ xã đến xóm có đủ năng lực phẩm chất, góp phần xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Coi công tác chính trị, tư tưởng là trọng tâm then chốt, là kim chỉ nam trong công tác xây dựng Đảng. Đảng bộ luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục đường lối đổi mới của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và của Đảng ủy một cách sâu sắc. Phê phán các quan điểm bảo thủ, lạc hậu, khuyến khích tư tưởng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Nhờ đó Đảng bộ đã xây dựng được bản lĩnh cách mạng kiên cường, nâng cao trình độ chính trị, trình độ văn hóa chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của tổ chức, lãnh đạo quản lý điều hành công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước.

Về tổ chức và cán bộ là bài học sâu sắc góp phần căn bản đi đến lãnh đạo tổ chức Đảng vững mạnh, lãnh đạo thành công các phong trào cách mạng quần chúng nhân dân. Hệ thống chính trị được kiện toàn và củng cố, xây dựng được quy chế hoạt động của tổ chức mình, chức năng nhiệm vụ của chi bộ xóm, quy chế phối hợp giữa Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ. Nhờ đó sự đoàn kết trong tổ chức Đảng được nâng cao, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo được tăng cường, đáp ứng yêu cầu trong từng giai đoạn. Công tác quàn lý cán bộ, đảng viên có nhiều tiến bộ. Việc phân công nhiệm vụ cho cán bộ đảng viên cụ thể, minh bạch.

Một trong những nhân tố quyết định đến hiệu quả của công tác tổ chức và cán bộ là sự gắn kết giữa công tác quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, tăng cường các đồng chí có trình độ năng lực và phẩm chất vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt được Đảng bộ xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đó là điều kiện để phong trào phát triển cả bề rộng, lẫn chiều sâu, lâu dài bền vững.

Hai là: tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, đảm bảo chức năng quản lý nhà nước, hiệu quả quản lý điều hành chính quyền trong việc triển khai thực hiện nghị quyết và các chương trình kinh tế xã hội của địa phương. Đảng bộ Thọ cường khi thành lập cơ sở vật chất còn nghèo, kinh nghiệm lãnh đạo chưa nhiều, nhưng với ý chí tiến công cách mạng, đã vận dụng sáng tạo mọi chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chính sách cấp trên, căn cứ thực tế ở địa phương đề ra những chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng Đảng.

Một trong những giải pháp là củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong hệ thống chính trị, tạo ra giá trị kinh tế - xã hội ngày một lớn. Đó là tổ chức thực hiện các phong trào, rộng lớn trong mỗi thời kì cách mạng. Các phong trào như: Tăng gia sản xuất, Đóng nhanh lúa tốt, Tòng quân giết giặc… trong kháng chiến chống Pháp; phong trào 3 sẵn sàng, 3 đảm đang, Mỗi người làm việc bằng hai, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, Xây dựng cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ…trong kháng chiến chống Mỹ; phong trào Mở hội tòng quân, 3 xung kích làm chủ tập thể…khi Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh biên giới. Trong công cuộc đổi mới vẫn nở rộ nhiều phong trào như: Đoàn Thanh niên với phong trào học tập rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp, Hội Phụ nữ với phong trào, học tập lao động sáng tạo, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng và hạnh phúc, giỏi việc nước đảm việc nhà, Hội Nông dân với phong trào thi đua lao động, sản xuất và kinh doanh giỏi giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, Hội Cựu chiến binh với phong trào thi đua hội cựu chiến binh gương mẫu bảo vệ Tổ quốc, an toàn hôm nay, bền vững ngày mai, Mặt trận tổ quốc với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, Hội người cao tuổi với phong trào nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hội khuyến học với phong trào Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, tự quản tiếng trống học đêm là phong trào toàn dân dân tham gia nhiệt tình tích cực với nét đặc sắc tinh hoa văn hóa riêng của Thọ Cường.

Qua các phong trào trên, đã tạo nên khí thế thi đua sôi nổi, kết thành một khối vững chắc, đẩy lùi khó khăn thách thức, tạo ra những thành tựu vô cùng lớn trong sự nghiệp cách mạng trên quê hương Thọ Cường.

Ba là: Thực hiện tốt quy chế dân chủ, bảo đảm được phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, đồng thời xác định rõ tình hình, đặc điểm địa phương, Ban Chấp hành Đảng bộ đã xây dựng và ban hành quy chế dân chủ nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, và trách nhiệm của người đứng đầu, xây dựng lề lối làm việc, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức.

Quan tâm chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra và giám sát về nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội - quốc phòng, an ninh của địa phương. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đạt được những kết quả đáng khích lệ, từng bước đáp ứng yêu cầu được giao.

Đến nay mọi người dân ở Thọ Cường đều thực hiện theo tiêu chí, hương ước làng văn hóa, gia đình văn hóa, xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, hạnh phúc, tiến tới thực hiện kế hoạch hóa gia đình, đoàn kết tương trợ thực hiện tốt nghĩa vụ công dân. Những việc làm đó phù hợp với suy nghĩ và nguyện vọng của nhân dân. Những giá trị gia đình, dòng họ truyền thống đã và đang được thế hệ con cháu gìn giữ như: hiếu thảo với ông bà cha mẹ, anh chị em đoàn kết thương yêu nhau, vợ chồng chung thủy trên kính dưới nhường.

Nhờ phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân thông qua quy chế dân chủ, kinh tế xã hội tiếp tục phát triển, tăng trưởng kinh tế hàng năm được duy trì ở mức khá ( hơn 12%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu nhập ngân sách đạt khá, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển kết cấu tầng kinh tế, xã hội chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới phát triển tốt, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người mỗi năm một tăng.

Hơn sáu mươi năm qua, Chi bộ, Đảng bộ Thọ Cường thực sự là nhân tố quyết định, tập hợp quần chúng, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng trên địa bàn xã. Đưa quê hương từ một vùng quê chiêm trũng, nghèo nàn, lạc hậu thành một xã có nền kinh tế tương đối phát triển, văn hóa xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, an ninh chính trị, trật tự xã hội vững vàng, được Nhà nước phong tặng nhiều huân, huy chương, bằng khen, giấy khen và nhiều hình thức ghi công khác. Trong quá trình ấy tổ chức Đảng ngày càng vững mạnh, nhiều năm liên tục được Huyện ủy Triệu Sơn công nhận là Đảng bộ đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh. Đây là hành trang vô cùng quý báu để Đảng bộ và nhân dân Thọ Cường vững bước trên con đường xây dựng quê hương giàu đẹp, vì mục tiêu, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và v¨n minh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN PHỤ LỤC

 

I. NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ ĐẢNGN, NHÀ NƯỚC TẶNG:

* Tổng số Huân, Huy chương các loại: 1.136 tấm, trong đó:

- 1 Huân chương Quân công,

- 8 Huân chương Quyết thắng,

- 26 Huân chương Giải phóng,

- 238 Bằng gia đình vẻ vang.

-  Mẹ Việt Nam anh hùng: 7 mẹ.

- Tập thể cán bộ và nhân dân trong xã được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng ba.

- Làng Quần Tín được UBND tỉnh Thanh Hóa cấp “bằng di tích lịch sử cách mạng, khu lưu niệm hội văng nghệ việt Nam (thời kỳ 1947 - 1954).

- Trung ương 2 lần tặng bằng khen về thành tích phong trào khuyến học.

- Nhân dân và cán bộ xã được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen về  thành tích “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, về thành tích Quốc phòng - An ninh.

- Các tổ chức đoàn thể, nhiều cá nhân lập thành tích xuất sắc được các cấp từ cơ sở đến Trung ương khen thưởng.

- Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa tặng bằng khen cho Đảng bộ Xã Thọ Cường 3 năm liên tục đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu (2011-2013)

 

BÍ THƯ CHI BỘ - BÍ THƯ ĐẢNG ỦY CÁC THỜI KỲ

Tháng 3/1947- tổ Đảng đoàn kết gồm 4 đ/c (Trịnh Văn Canh Tổ trưởng, Trịnh Văn Quyết, Lê Xuân Tràng, Lê đình Lanh) – Chủ tịch: Ông Trịnh như Đương, ông Lê Văn Thảo. Từ 1945-1950 kết nạp 54 đ/c đảng viên.

 

TT

Họ và tên

Thời gian

Ghi chú

1

Trần Lương Giáp

1954-1955

chi bộ

2

Phạm văn Tích

1955-1956

 

3

Trịnh văn Quyết

1957- 1960

 

 

Bí thư  Đảng ủy

 

 

4

Lê Đình Chỉ 

1961-1968

Đảng bộ

5

Phạm Văn Bổng

1968-1970

 

6

Phạm Thanh Hải

1970-1973

 

 

Lê Đình Chỉ

1973-1976

 

7

 

8

Ngô Xuân Khính (1976-1978)

Lê Đình Hoằng (1978-1979)

1976-1979

 

9

Lê Đình Lưu

1979-1987

 

10

Lê Khắc Kháng

1987-1991

 

11

Lê Đình Hoằng

1991-1996

 

12

Lê Văn Long

1996-2010

 

13

 

14

Lê văn Long

(2005-2007)

 Đặng Quyết Chí (2007-2010)

2005-2010

 

15

Nguyễn Thị Thanh

2010-2015

 

 

 

 

 

Qua 60 năm có 3 đ/c BT chi bộ.

17 Khóa có 10 đ/c BT ĐU nay còn 5 đ/c, có 2 đ/c làm 4 Khóa; đ/c lê Đình Lưu 4 khóa liên tục = 12 năm; đ/c Lê Đình Chỉ 3 khoá liên tục và 1 Khóa sau = 10 năm.              

 

CHỦ TỊCH UBND XÃ THỌ CƯỜNG TỪ 1953 ĐẾN NĂM 2014

 

TT

Họ và tên

Thời gian

Ghi chú

1

Hà Văn Bảng

1954-1955

 

2

Lê Văn Kính

1955-1956

 

3

Phạm Văn Bổng

1957- 1958

 

4

Nghiêm Văn Xuân

59-1960

 

 

Phạm Văn Bổng.

1961-1965

 

5

Lê Thị Viên

1965-1968

 

6

Phạm Văn Tích

1968-1970

 

7

Lê Đình Chỉ

1970-1973

 

8

Ngô Xuân Khính

1973-1976

 

9

Lê Đình Lưu

1976-1979

 

10

Lê Thanh Toàn

1979-1982

 

 

Lê Đình Lưu

1982-1985

 

11

Lê Đình Đỉnh

1985-1987

 

12

Lê Đình Hoằng

1987-1994

 

13

Lê Đình Thường

1994-1999

 

13

Lê Đình Cường

1999-2007

 

12

Phạm xuân Kỳ 

2007-nay

 

 

DANH SÁCH TRỰC ĐẢNG

 

Stt

Nhiệm kỳ

Họ tên

Ghi chú

 

Lê Đình Quang

1963-1965

 

 

Phạm Văn Bổng

1965-1968

 

 

Lê Đình Chỉ

1968-1970

 

 

Phạm Văn Bổng

1970-1973

 

 

Trịnh Hồng Vân

1973-1976

 

 

Lê văn Long

(78-79)

Lê đình Tuyết – quyền TĐ (1979)

1976-1979

 

 

Lê văn Dần

Lê mai Hiến

1979-1982

 

 

 

1982-1985

 

 

 

Lê Văn Long

Phạm Hữu Năm (1987)

1985-1987

 

 

Phạm Hữu Năm

1987-1991

 

 

Lê Văn Long

1991-2000

 

 

Đặng Quyết Chí

2000-2007

 

 

Lê văn Cường

2007-2015

 

 

 

 

DANH SÁCH CHỦ TỊCH ĐOÀN THỂ  CÁC THỜI KỲ

 

TT

HỌ VÀ TÊN

NHIỆM KỲ

GHI CHÚ

HỘI NÔNG DÂN

 

 

1

Lê Đình Ngân

1954-1955

 

2

Lê Thị Đàn

1955-1956

 

3

Phạm Văn Tích

1956-1958

 

4

Đinh Quang Bường

1982-1986

 

5

Nghiêm Văn Đông

1987-1991

 

6

Lê Mai Hiến

1992-1993

 

17

Nghiêm Văn Đông

1994-1995

 

8

Nguyễn Đức Hòa

1996-1999

 

9

Lê Đình Cường

1999-2000

 

10

Lê Văn Trung

2000-2002

 

11

Nguyễn Đức Hòa

2002-2007

 

12

Lê Văn Sinh

2007- nay (2014)

 

HỘI CỰU CHIẾN BINH

 

 

1

Lê Đình Giang

1990-1992

 

2

Lê Đình Tứ

1992-1994

 

3

Lê Đình Tứ

1994-1996

 

4

Lê Đình Tứ

1996-1998

 

5

Lê Đình Tứ

1998-2001

 

6

Lê Khắc Kháng

2002-2007

 

7

Lê Xuân Hữu

2007-2012

 

8

Lê Đình Khiêm

2012-2017

 

HỘI PHỤ NỮ

 

 

1

Lại Thị Dũng

1945-1947

 

2

Nghiêm Thị Quý

1948-1960

 

3

Lê Thị Nhữ

1960-1967

 

4

Lê Thị Phúc

1967-1972

 

5

Lê Thị Cường

1972-1976

 

6

Lê Thị Lịch

1976-1979

 

7

Trịnh Thị Quí

1979-1984

 

8

Ngô Thị Thanh

1984-1992

 

9

Nghiêm Thị Loan

1992-2006

 

10

Nguyễn Thị Thanh

2006-2008

 

11

Lê Thị Hòa

2008-2011

Q. chủ tịch

12

Lê Thị Hồng

2011-2016

 

ĐOÀN THANH NIÊN

 

 

1

Lê Đợt

1954-1955

 

2

Phạm Văn Nê

1956-1957

 

3

Bùi Xuân Khoát

1958-1959

 

4

Nguyễn Hữu Phước

1960-1961

 

5

Nguyễn Văn Tương

1962-1963

 

6

Lê Thị Minh

1964-1965

 

7

Lê Văn Tuyến

1966-1967

 

8

Đỗ Thị Tám

1968-1969

 

9

Lê Ẩm

1970-1971

 

10

Nguyễn Thị Liên

1972-1973

 

11

Lê Minh Duy

1974-1975

 

12

Lê Văn Long

1975-7976

 

13

Lê Đình Tỉnh

1976-1977

 

14

Phạm Khắc Toàn

1977-1978

 

15

Lê Mai Hiến

1978-1979

 

16

Phạm Hữu năm

1979-1980

 

17

Lê Thanh Toàn

1981-1982

 

18

Nguyễn Đức Hòa

1983-1987

 

19

Lê Anh Tiến

1987-1989

 

20

Phan Hữu Vượng

1989-1991

 

21

Lê Văn Phụng

1991-1992

 

22

Lê Xuân Hưng

1992-2003

 

23

Lê Văn Dũng

2003-2012

 

24

Lê Trung

2012-2016

 

HỘI KHUYẾN HỌC

 

 

1

Lê Đình Lưu

2001-2003

 

2

Nguyễn Văn Hoan

2003-2005

 

3

Lê Đình Cư

2005-2010

 

4

Lê Đình Cư

2010-2015

 

HỘI NGƯỜI CAO TUỔI

 

 

1

Đinh Quang Bường

1997-1999

 

2

Phạm Mạnh Hào

2000-2014

 

HỘI THANH NIÊN XUNG PHONG

 

 

1

Lê Xuân Hữu

2005-2010

 

2

Lê Xuân Hữu

2010-2015

 

DANH SÁCH CÁN BỘ Xà ĐỘI

 

 

1

Lê Đình Thạo

1954-1956

 

2

Lê Kiên

1956-1958

 

3

Lê Đình Ruê

1958-1960

 

4

Bùi Cao Xuân

1960-1964

 

5

Lê Đình Quang

1964-1966

 

6

Lê Thị Hữu

1967-1969

 

7

Trịnh Huy Tác

1969-1972

 

8

Hà Kin Bảng

1972-1975

 

9

Phạm Hữu Được

1975-1976

 

10

Phạm Mạnh Hào

1976-1977

 

11

Lê Đình Đỉnh

1977- 1982

 

12

Phạm Hữu Năm

1982-1984

 

13

Lê Anh Tiến

1984-1988

 

14

Phạm Văn Ninh

1988 -2004

 

15

Lê Thế Long

2004- 2014

 

CHỦ TỊCH MẶT TRẬN TỔ QUỐC

 

1

Nhô Xuân Khính

1954-1955

 

2

Hoàng Kim Châu

1955-1968

 

3

Lê Đình Bỉnh

1969-1973

 

4

Phạm Văn Bổng

1974-1975

 

5

Lê Xuân Nhợn

1976-1977

 

6

Lê Đình Chỉ

1979-1982

 

7

Lê Đình Cương

1983-1985

 

8

Đinh Quang Bường

1986-1990

 

9

Lê Đình Lưu

1991-2003

 

10

Lê Xuân Hưng

2003-2014

 

CHỦ TỊCH  HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

 

1

Trần Lương Giáp

1954-1955

 

2

Phạm Văn Tích

1955-1956

 

3

Trịnh Văn Quyết

1957-1960

 

4

Lê Đình Chỉ

1961-1968

 

5

Phạm Văn Bổng

1968-1970

 

6

Phạm Thanh Hải

1970-1973

 

7

Lê Đình Chỉ

1973-1976

 

8

Ngô Xuân Khính

1976-1979

 

9

Lê Đình Lưu

1979-1991

 

10

Lê Khắc Kháng

1991-1994

 

11

Lê Đình Hoằng

1994-2000

 

12

Lê Văn Long

2000-2008

 

13

Nguyễn Thị Thanh

2008-2014

 

 

 

 

 

 

 

 

 Lêi nãi ®Çu

Xã Thọ Cường là một vùng quê cả lÞch phát triển lâu đời. Lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng dân cư nơi đây gắn liền với quá trình đấu tranh với thiên tai, địch họa, là quá trình lao động sáng tạo, cần cù và tån tiện và, đồng thời sáng  phát triển,tạo ra những giá trị văn hóa quý giá. Đức tính chịu thương, chịu khó, “ thương người như thể thương thân” luôn là mạch nguồn xuyên suốt trong lối sống, đạo lý của người Thọ Cường.

Trong các cuộc kháng chiến, với ý chí "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", "không có gì quý hơn độc lập, tự do", nhân dân Thọ Cường vững vàng trên mọi mặt trận, vừa xây dựng quê hương, sẵn sàng chiến đấu; vừa cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào người Thọ Cường vẫn phát huy được truyền thống quý báu của quê hương, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc. Để rồi khi non sông thu về một mối, Bắc - Nam ca khúc khải hoàn, c¸n bé, nhân dân xã Thọ Cường vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng các danh hiệu cao quý với nhiều huân, huy chương các loại, cờ thi đua, danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng.

Từ một vùng quê với “chiêm khê, mùa úng”, vượt qua muôn vàn khó khăn, bằng sự lao động cần cù, sáng tạo của mình, Thọ Cường vượt lên giành nhiều thành tích trong sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Trong cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, xây dựng quª h­¬ng giµu ®Ñp, một lần nữa Thọ Cường lại giành được những thành tích rất đáng tự hào. Từ những mái tranh lụp sụp xưa kia, nay đa số nhà dân được ngói hóa, kiên cố hóa, với nhiều tiện nghi hiện đại của thời kì đổi mới. Trường học, trạm xá được xây dựng khang trang, bề thế, đường giao thông được mở rộng qua phong trào “hiến đất”, đang được bê tông hóa, khiến quê hương đổi mới từng ngày. Các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Trong thắng lợi chung đó, một nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trên địa bàn xã. Từ một tổ Đảng được thành lập năm 1947 có 4 đảng viên, năm 1954 thành lập Chi bộ, đến năm 1961 được công nhận là Đảng bộ Thọ Cường và đến nay là một Đảng bộ luôn đạt Trong sạch vững mạnh gồm 12 chi bộ, với 208 đảng viên là một quá trình chiến đấu, dựng xây, phát triển đầy hi sinh và gian khổ.

Để góp phần lý giải, sức mạnh nào đã tạo nên sự thay đổi kỳ diệu ấy, đồng thời ghi lại chặng đường đầy gian khó nhưng cũng rất vinh quang của Đảng bộ; lưu danh đảng viên, quần chúng nhân dân đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, cùng những người đã đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của vì sự nghiệp cách mạng, thực hiện Chỉ thị số 15 - CT/TW, ngày 28 tháng 8 năm 2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa IX), chủ trương của Tỉnh ủy Thanh Hóa và Chỉ thị 26 - CT/HU, ngày 21 tháng 10 năm 2013 về đẩy mạnh công tác biên soạn lịch sử Đảng bộ cơ sở, chấp hành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Thọ Cường (khóa XVII), ngày 10 tháng 8 năm 2008, Đảng ủy xã Thọ Cường xây dựng Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo sưu tầm, biên soạn cuốn lịch sử Đảng bộ Thọ Cường giai đoạn 1954 – 2015. Sự ra đời của cuốn lịch sử Đảng bộ nhằm tổng kết khách quan lịch sử sự ra đời, xây dựng và lãnh đạo của Đảng bộ trong 60 năm qua, cùng với sự lãnh đạo của Đảng bộ đã phát huy truyền thống cách mạng yêu nước của dân ta, tạo ra giá trị tinh thần vật chất mới ngày càng tiến bộ, phát triển, qua đó góp phần giáo dục truyền thống lịch sử Đảng bộ Thọ Cường; làm cho các thế hệ đảng viên tự hào, trân trọng phát huy truyền thống tốt đẹp của Đảng bộ; làm tròn nghĩa vụ của người đảng viên trong các giai đoạn cách mạng mới; “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xây dựng nông thôn mới sớm trở thành hiện thực trên quê hương Thọ Cường.

Cuốn sách “ Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Thọ Cường 1930 - 2015” được suất bản là một công trình ý nghĩa ghi dấu mốc lịch sử 62 năm ngày thành lập xã (10/1953 - 10/1915) 61 năm thành lập chi bộ - Đảng bộ xã Thọ Cường (6/1954 - 6/2015) và chào mừng Đại hội Đảng bộ xã Thọ Cường khóa XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020).

  Quá trình nghiên cứu, biên soạn đã được Ban Tuyên giáo Huyện ủy Triệu Sơn, Hội Khoa học lịch sử Thanh Hóa giúp đỡ, được các đồng chí cán bộ chủ chốt của xã qua các thời kỳ, các bậc tiền bối cách mạng cùng các đồng chí có tuổi đời, tuổi Đảng cao đã góp ý xây dựng. Các đồng chí trong Ban sưu tầm biên soạn đã tận tâm, trách nhiệm hoàn thành suất sắc nhiệm vụ trong suốt 4 năm (2010 - 2014), trong đó trân trọng cảm ơn đồng chí Lê Văn Long nguyên bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã cung cấp nhiều tư liệu quý. Song do thời gian dài, cấp ủy, cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể thay đổi nhiều, tư liệu sử không được ghi chép có hệ thống, do đó cuốn sách không sao tránh khỏi thiếu sót.

Chúng tôi xin trân thành cảm ơn và tiếp thu ý kiến xây dựng của các đồng chí, và bạn đọc gần xa, để lần tái bản và xuất bản giai đoạn tiếp theo đạt kết quả chất lượng tốt hơn.

 

 

                                                 CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI,

CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ

 

                                    i.        VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI.

1.  Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên.

Thọ Cường là một trong 36 xã, thị trấn của huyện Triệu Sơn, cách huyện lị khoảng 13 km về phía Tây, là vùng đất có bề dày lịch sử, nằm trong không gian văn hoá Đông Sơn, một nền văn minh trống đồng phát triển rực rỡ. Nơi có khu di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, một trong những chiệc nôi của phong trào văn hóa, văn nghệ của Liên khu IV và cả nước với nhiều tác gia tên tuổi cả nước biết đến. Phía Bắc giáp xã Thọ Ngọc, phía Đông giáp xã Xuân Thọ, phía Nam giáp xã Thọ Tiến, phía Tây giáp xã Thọ Sơn và Nông trường Sao Vàng.

Diện tích tự nhiên của xã là 586,06 ha, trong đó:

·                 Diện tích đất canh tác: 348,96 ha.

·                 Diện tích đồng cỏ và đất lâm nghiệp: 30 ha.

·                 Diện tích dân cư và công sở: 215,39 ha.

·                 Diện tíc quy hoạch giao thông: 44,29 ha.

·                 Diện tích quy hoạch nghĩa địa: 8,48.

Về địa hình và thổ nhưỡng.

Nghiên cứu lịch sử kiến tạo địa chất đã khẳng định, cũng như nhiều xã trong khu vực, Thọ Cường có địa hình bán sơn địa, thuộc vùng chuyển tiếp giữa đồi núi phía Tây và đồng bằng châu thổ Thanh Hoá, nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Thổ nhưỡng ở đây có nguồn gốc do quá trình phong hóa của các loại đá mẹ và quá trình tích tụ phù sa do các hệ thống sông mà thành. Trải qua hàng ngàn năm tích tụ, bồi đắp của thiên nhiên, cùng với sự cần cù, sáng tạo của con người, vùng đất ấy dần trở thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng. Ngoài nét chung ấy, địa hình của Thọ Cường không đồng nhất như các xã đồng bằng. Bên cạnh những cánh đồng có diện tích tương đối lớn còn có 47 ngọn đồi. Trong đó có ngọn đồi mà nhân dân vẫn gọi là núi Ngọc, có diện tích gần 9 ha, cao 15 mét, thuộc địa phận làng Quần Tín. Trong kháng chiến chống Pháp, núi Ngọc và các nhà dân làng Quần Tín từng là nơi đóng quân của các nhà văn nghệ sĩ, tại đây đã mở các lớp văn hóa văn nghệ kháng chiến, với nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ lớn từng học và giảng dạy. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây là nơi đóng quân và luyện tập của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 308. Hiện nay đã được công nhận là khu di tích lịch sử cấp tỉnh.

Với nguồn gốc hình thành và địa hình như vậy, nhìn chung chất đất ở Thọ Cường tương đối phong phú. Bên cạnh đất phù sa cổ không được bồi đắp thường xuyên, còn có nhóm đất bạc màu, rửa trôi, chủ yếu trên các gò đồi mà thảm thực vật ở đây bị khai thác hết. Ngoài ra còn có nhóm đất lầy thụt, thường là phân bố ở các thung lũng chân đồi, đất có nguồn gốc hồ đầm được vật liệu từ trên các đồi núi, khu vực cao lấp dần, đây là đất bị ngập nước quanh năm có lượng mùn cao, đất chua, nghèo ka li, khi trồng lúa cần cải tạo độ chua.

Nhìn chung thổ nhưỡng ở Thọ Cường tương đối thuận tiện cho sản xuất, nhất là trồng lúa nước, ngoài ra còn có diện tích đất gò đồi, có đồng cỏ rộng, có thể phát triển chăn nuôi trâu bò, trồng cây lâm nhiệp và cây công nghiệp ngắn ngày. Từ xa xưa, nhân dân Thọ Cường đã cần cù khai phá tạo nên những cánh đồng phì nhiêu, xóm làng trù phú, phát triển một nền nông nghiệp ngày càng phong phú về sản vật, nuôi sống nhiều thế hệ người địa phương, góp phần đưa Triệu Sơn trở thành huyện trọng điểm lúa của Thanh Hoá.

Khí hậu và thời tiết.

Nằm ở vùng đồng bằng Thanh Hoá, Thọ Cường có chung kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đặc trưng của kiểu khí hậu này là ngoài việc phân bố theo vĩ độ, còn chịu tác động sâu sắc của gió mùa. Khoảng tháng 5 đến tháng 10 hàng năm là mùa nóng ẩm, trùng với gió mùa Đông Nam (còn gọi là gió nồm) từ biển thổi vào mang nhiều hơi nước nên thường gây mưa. Mùa này thường có bão với sức gió mạnh, mưa lớn thường gây nhiều thiệt hại về tài sản và hoa màu của nhân dân. Một kiểu thời tiết khác là gió phơn Tây Nam, còn gọi là gió Lào với tính chất khô nóng gây nên kiểu thời tiết rất khó chịu trong mùa hè. Khoảng tháng 8 (tháng 7 âm lịch) có dãi hội tụ nhiệt đới vắt qua gây nên cảnh khi tạnh, khi mưa, mà nhân dân ta đã thêu dệt nên mối tình dang dở của vợ chồng nhà Ngâu. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là thời kì khô hanh của mùa đông, xen kẽ có những đợt lạnh kéo dài do các khối không khí lạnh lục địa tràn về, gọi là gió mùa Đông Bắc (hay gió bấc). Giữa hai mùa nống ẩm và khô lạnh là mùa chuyển tiếp có thời tiết tương đối dễ chịu. Giai đoạn tháng 2 đến tháng 4 thường có mưa phùn, chính vì vậy tháng 3 là tháng có độ ẩm cao nhất trong năm.

Đặc điểm này đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch thời vụ, đồng thời tạo nên sự đa dạng phong phú cho cơ cấu giống cây trồng ở địa phương, do nhập về những loài cây có nguồn gốc ôn đới như các loại rau mùa đông, tạo điều kiện quan trọng để đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính.

Thời tiết khí hậu đã gây ra không ít tác hại cho sản xuất và đời sống, nhưng nhìn chung, yếu tố thuận lợi vẫn là toàn diện và bao quát.

Hệ thống sông ngòi, ao hồ:

  Thọ Cường không có con sông tự nhiên nào chảy qua, ngoài các suối, rạch nước chảy chủ yếu vào mùa mưa, chạy bên sườn phía Tây của núi Ngọc là chi giang 6, có chiều dài qua xã khoảng 1,5 km, từ đây có hệ thống mương tưới chạy về các xứ đồng, phục vụ cho 258,05 ha lúa và màu trong toàn xã, đồng thời từng là nguồn nước sinh hoạt quan trọng của nhân dân. Chính vì vậy, so với nhiều địa phương khác ở Thanh Hóa, Thọ Cường và các xã trong khu vực tương đối thận tiện về tưới tiêu, phục vụ sản xuất phát triển.

Trong xã có hai hồ lớn là hồ Đồng Quên và hồ Đồng Mốc, diện tích mỗi hồ đều trên 3 ha. Riêng hồ Đồng Quên từng là một rốn nước. Tương truyền xưa kia hồ rất rộng và sâu, cá to và nhiều vô kể, không ai dám đi thuyền ra giữa hồ. Trải qua hàng trăm năm tích tụ các sản phẩm rửa trôi lòng hồ cạn dần. Hiện nay cả hai hồ được cho dân đấu thầu để nuôi cá kết hợp với trồng lúa nước.

Ngoài hai hồ trên, hệ thống ao ở các làng tương đối nhiều nằm xen lẫn vào khu dân cư. Từ xưa, nhân dân đã đào ao để nuôi cá cải thiện đời sống, lấy nước sinh hoạt. Hệ thống ao làng đã tạo nên nét đặc sắc của làng quê, đồng thời góp phần quan trọng  vào việc cải thiện đời sống nhân dân.

2.  Kinh tế - xã hội

Trước kia đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực, Là một vùng quê lấy sản xuất nông nghiệp làm nghề chính mà không chủ động được tưới tiêu.

Từ năm 1896 đến năm 1925, người Pháp đã cho xậy dựng hệ thống thuỷ nông Sông Chu, gồm đập Bái Thượng, 1 kênh đào chính, 2 kênh đào phụ, có tổng chiều dài 110 km và hệ thống chi giang, tiểu câu dài 2.625 km. Từ đây, sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường thuận lợi hơn. Nhưng sống trong chế độ thực dân phong kiến đời sống nhân dân vẫn không được cải thiện. Người nông dân là lực lượng lao động chủ yếu sản xuất ra lương thực, thực phẩm, nhưng bị bóc lột tàn nhẫn, sưu cao thuế nặng, phu phen, tạp dịch liên miên, thiên tai tàn phá mùa màng, hủ tục đè nặng lên cuộc sống làng quê. Ruộng đất tập trung trong tay nhà giàu, người nông dân quanh năm làm thuê cuốc mướn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc. Số đông ngày ba, tháng tám phải ăn rau, ăn cháo cầm hơi, cuộc sống vô cùng khốn khó.

Đến khi hợp tác xã nông nghiệp ra đời, công tác thuỷ lợi mới được chú trọng, hệ thống mương tưới, mương tiêu được củng cố, bờ vùng, bờ thửa được quy hoạch, các tiến bộ khoa học kĩ thuật từng bước được đưa vào ứng dụng nên năng suất lúa dần được nâng lên. Tuy nhiên, điều kiện đất nước còn chiến tranh, hạn chế nhiều mặt, nên sản suất lương thực vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng. Thời gian đầu mới thống nhất đất nước, do cơ chế quản lí không chuyển kịp yêu cầu xã hội, đã kìm hãm phát triển sản xuất, nhiều năm mỗi công lao động chỉ đạt khoảng 1 kg thóc.(1)

Từ khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp, đặc biệt là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về “ Đổi mới cơ chế quản lí kinh tế nông nghiệp” sản xuất nông nghiệp ở Thọ Cường đã có bước nhảy vọt. Người nông dân bước đầu làm chủ trên mảnh ruộng của mình, đầu tư thâm canh, tăng vụ, nên năng suất cây trồng tăng nhanh.

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã mang lại nguồn sinh khí mới trong xã hội. Trong sản suất nông nghiệp, các tiến bộ khoa học được đưa vào ứng dụng thường xuyên hơn, dịch vụ sản xuất được cung ứng kịp thời, tiềm lực trong nhân dân được khơi dậy, nên năng suất cây trồng tăng vượt bậc.

Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, liên tục được mùa, đời sống nhân dân ổn định và phát triển, các phong trào của quần chúng ngày một tốt hơn. Trong sản xuất nông nghiệp, Thọ Cường đang chuyển mạnh các giống cây trồng truyền thống sang các cây trồng có giá trị hàng hoá, kinh tế cao. Ngành nghề, dịch vụ, việc làm đang từng bước khởi sắc, tạo nên sự chuyển dịch đáng kể trong tỉ trọng kinh tế của địa phương.

Gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, Thọ Cường đã tích cực chăm lo xây dựng cơ sở vật chất, phúc lợi toàn dân bằng nguồn vốn của tập thể, của nhân dân và một phần hỗ trợ của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, xã Thọ Cường đã xây dựng các công trình như: công trình điện nông thôn, hệ thống đài truyền thanh, trường và bếp ăn bán trú cho học sinh trường Mầm Non, trường Tiểu Học, Trung Học cơ sở hai tầng, khu nhà hiệu bộ trường Tiểu Học theo tiêu chí chuẩn Quốc gia. Hệ thống đường giao thông nông thôn được cứng hóa theo chỉ giới đường liên thôn rộng 9 m, đường nội thôn rộng 5m và từ năm 2010 bắt đầu thực hiện chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn, đặc biệt chỉ trong 03 năm (2011 - 2013) thông qua công tác tuyên truyền vận động đã có 598 hộ hiến 38.160m2 đất thổ cư, tháo dỡ 18.120m2 tường rào xây, 22 quán và bán bình cùng nhiều cây cối, hoa màu khác phục vụ công tác mở rộng đường giao thông nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới, nhân dân tự nguyện đóng góp và làm được trên 9,2 km đường bê tông nộng thôn chuẩn cấp A.

Trong nông nghiệp, Thọ Cường đã tích cực khắc phục khó khăn, thách thức tiến hành CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn kiên cố được 2,7km đường, 5,2 km mương nội đồng phục vụ cho sản xuất, tích cực đưa cây lúa lai, ngô lai vào sản xuất, đến năm 2014 tổng sản lượng lương thực đạt trên 2.800 tấn, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1986.

Ngoài ra, Thọ Cường còn là xã có thế mạnh phát triển công, nông nghiệp và dịch vụ, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư hàng trăm triệu đồng xây dựng các trang trại, gia trại nuôi lợn, vịt siêu trứng, nuôi cá, dịch vụ xay sát và cơ khí…các mô hình này vừa giải quyết được việc làm vừa có thu nhập ngày càng cao. Trong thực tế đã có nhiều hộ gia đình có kinh tế khá, nhà cửa khang trang, cuộc sống ngày một phát triển. Những ngôi nhà bằng, nhà cao tầng đang từng bước thay thế những mái tranh lụp sụp xưa kia. Cuộc sống ấm no, hạnh phúc đang hiển hiện trên đất Thọ Cường vốn giàu truyền thống cách mạng và cần cù, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu.

Truyền thống văn hóa phong phú.

Thọ Cường một xã có nền văn hoá phát triển lâu đời. Mảnh đất và con người ở đây đã chất chứa, thấm đẫm bao giá trị văn hoá, tinh thần tinh tuý từ ngàn xưa để lại. Đây là tài sản vô giá, góp phần tạo nên cốt cách, lối sống của người Thọ Cường hôm nay.

Vượt lên muôn vàn gian khó của một vùng chiêm trũng xen lẫn gò đồi, những hủ tục, lạc hậu, những định chế ràng buộc của chế độ phong kiến, đời sống văn hoá của địa phương vẫn cứ tồn tại, phát triển bền bỉ cùng năm tháng.

Nếp sống văn hoá, đặc biệt là văn hoá dân gian ở đây phản ánh khá rõ đời sống tinh thần của người dân Thọ Cường, vừa mang sắc thái riêng biệt, vừa mang những nét chung của vùng miền. Đến nay, các văn bản chính thức ghi chép được không nhiều, nhưng qua truyền khẩu từ bao đời nay cho thấy văn hoá dân gian ở đây phát triển rất phong phú. Những câu hò vè, những câu ca dao, những bài thơ, phú, chuyện cổ tích nói về đạo lí, tinh thần, về tình cảm, tình yêu lao động, yêu quê hương, đất nước vừa là những bài học đạo đức, răn dạy về lẽ sống, đạo làm người, vừa phản ánh phong tục, đời sống tinh thần khá phong phú của người Thọ Cường- cư dân của nền văn minh lúa nước.

Xưa kia, do điều kiện xã hội, do chính sách chia để trị của bọn thực dân, phong kiến, cuộc sống của người dân thường khép kín sau luỹ tre làng, vì vậy mỗi làng đều có nét văn hoá riêng. Tuy nhiên, có thể thấy, văn hoá dân gian ở đây tương đối đồng nhất do cùng có chung nguồn gốc là làng Quần tín, vừa mang đặc điểm địa phương, vừa có sự hoà trộn, giao thoa với các địa phương trong vùng, cũng như cư dân. Một mặt, có thể do sự du nhập các dòng họ từ ngoài Bắc và các vùng quê đến đây sinh cơ, lập nghiệp, mặt khác, văn hoá Thọ Cườngchịu ảnh hưởng sâu sắc của vùng và do giao thoa văn hóa mang lại.

Trong các làng truyền thống xưa đều có đình. Đình vừa là nơi thờ thành hoàng vừa là nơi sinh hoạt của nhân dân. Ngoài ra trong các làng còn có đền, miếu, nghè thờ thánh thần hoặc những người có công với quê hương, đất nước.

Cũng qua lao động, bằng bàn tay khối óc của mình, người Thọ Cườngđã tạo nên nhiều công trình văn hoá đặc sắc. Trước kia về bất cứ làng nào trong xã cũng bắt gặp các công trình kiến trúc có giá trị văn hoá như đình, chùa, nghè miếu, bia đá....

Cho đến trước cải cách ruộng đất Thọ Cườngcòn giữ được khá nhiều công trình kiến trúc có giá trị văn hoá độc đáo. Việc thờ cúng ở các đền chùa ở Thọ Cườngmột mặt phản ánh nét đặc sắc của nền văn minh lúa nước, mặt khác đây là sinh hoạt văn hóa, tâm linh của dân làng, qua đó để giáo dục con người hướng vào cõi thiện, tránh điều ác, luôn biết ơn những người có công với làng, nước.

Thọ Cườnglà địa phương có truyền thống hiếu học. Từ thuở mở đất, dựng làng, cuộc sống còn chìm trong bộn bề gian khó, người dân nơi đây đã hướng tới sự học với niềm ngưỡng vọng cao siêu nhất. Người có học luôn được kính trọng, được xếp vào hàng trên trong làng.

Người Thọ Cường trước đây học để mong được làm quan, giúp dân, giúp nước, làm rạng danh dòng họ, gia đình, trong sử sách còn ghi vào thế kỷ XVIII-XIX làng Quần Tín đã có những vị đỗ đạt cử nhân, đỗ đại khoa như ông Lê Thức, ông Lê Lâm (có tên trên bia đá Văn miếu quốc tử Giám) tấm gương đó luôn khích lệ cán bộ Đảng viên và nhân dân trong xã. Nhưng nhiều người học chỉ cốt lĩnh hội được ý tứ sâu xa của chữ thánh hiền, giữ đạo nhà, đạo làm người. Trong số họ, nhiều người mở lớp dạy chữ tại nhà, đây là nơi khai tâm, khai trí cho bao lớp người Thọ Cường trước đây.

Có thể nói nhân dân Thọ Cường có đời sống tinh thần rất phong phú. Tìm hiểu kĩ về văn hoá ở đây hé mở cho chúng ta thấy đây thực sự là một vùng quê chất chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hoá và cách mạng.

Nói đến văn hóa Thọ Cường không thể không nhắc đến khu lưu niệm Hội văn nghệ Việt Nam (thời kỳ 1947 – 1954) làng Quần Tín.

               Làng Quần Tín là mảnh đất có vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên trù phú, phía trước làng có giếng nước trong, có hồ lớn là nơi trú ngụ của nhiều loại cá tôm và chim cò, phía sau làng có rừng Đồng Sủng, phía Tây có rừng Mụ Đốp với nhiều cây cổ thụ và các loài muông thú, đặc biệt có thể ẩn nấp mỗi khi có máy bay và những trận càn quét của địch. Xưa kia Quần Tín có 4 điểm canh ở 4 cổng làng, có tuần phủ và thanh niên thay phiên nhau canh gách để chống trộm cướp và kiểm soát người qua lại vào làng. Trong làng còn có một ngôi đền, một ngôi đình rộng và 1 ngôi trường của tổng Tam Lộng rất thuận tiện cho hội họp và tổ chức các khóa học. Bên cạnh đó còn có nhiều ngôi nhà rộng của nhân dân với vườn tược rộng rãi, thuận tiện cho sinh hoạt, ở và làm việc cho những gia đình văn nghệ sĩ tản cư về đây.

          Sau khi cuộc kháng chiến bùng nổ, nhiều cơ quan nhà nước và nhân dân Hà Nội phải di tản vào vùng tự do Thanh Hóa. Trường văn hóa nghệ thuật đầu tiên mở ở làng Bôn (Đông Sơn) nhưng không an toàn nên được chuyển về làng Quần Tín. Quần Tín là một làng có đủ các yếu tố thuận lợi và đặc biệt là con người nơi đây hết lòng vì cách mạng, vì thế từ cuối năm 1947 đến năm 1954, Quần Tín đã được chọn và trở thành “an toàn khu” để Hội văn nghệ Việt Nam cũng như một số nhà chính trị, quân sự về đây hoạt động, học tập.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chính quyền địa phương, Quần Tín trở thành một địa chỉ, một cái nôi tin cậy nuôi dưỡng, che trở cho các văn nghệ sỹ, các học giả nổi tiếng tản cư trong kháng chiến chống Pháp. Gia đình các nhà văn: Nguyễn Tuân, Đặng thai Mai, Nguyễn Đình Lạp, Trương Tửu; nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh; các họa sỹ Nguyễn Văn Tỵ, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn; nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim, gia đình nhà văn Vũ Ngọc Phan từng ở Quần Tín. Các vị lãnh đạo ở Trung ương của Đảng cũng về đây để bàn kế sách đánh Pháp. Với Phương châm thực hiện khẩu hiệu 3 không: Không nghe, không biết, không thấy, nhân dân làng Quần Tín đảm bảo bí mật tuyệt đối góp phần vào thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

         Trên cơ sở  đường lối văn nghệ của Đảng với phương châm. Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. Văn nghệ Việt Nam thời kỳ này được xác định là mặt trận tư tưởng của Đảng với việc thực hiện khẩu hiệu: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Cùng với các hoạt động văn hóa, các lớp văn hóa kháng chiến được mở để đáp ứng yêu cầu cách mạng, đồng thời lớp Đại học văn hoá khoá 1, khoá 2, khóa 3 được mở tại Quần Tín, do Thầy Đặng Thai Mai làm hiệu trưởng. Địa điểm lớp học là ngôi đình làng và ngôi trường của Tổng Tam Lộng (nơi dạy lớp đồng ấu của làng được nhường làm nơi cho cho khoá học Đại học Văn nghệ Kháng chiến). Có các giảng viên có uy tín trong văn học nghệ thuật về giảng dạy như: Nhà văn – nhà lý luận văn học Đặng Thai Mai, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Hải Triều, Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Tôn Quang Phiệt, Giáo sư Đào Duy Anh (Trong thời kỳ chống Pháp, ông là trưởng ban Sử - Địa thuộc Vụ văn học nghệ thuật, bộ giáp dục) giáo sư Trương Tửu v.v … Tướng Nguyễn Sơn cũng thường xuyên đến đây trao đổi về văn học, nghệ thuật với học viên.

Tại ngôi đình này, ngoài các giáo viên nêu trên, còn có các nhà chính trị, nhà thơ, nhà văn tham gia giảng dạy và tham gia nói chuyện tại lớp văn hóa kháng chiến, như các đồng chí: Hồ Tùng Mậu, Trường Chinh, Nguyễn Văn Giàu, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Xuân Diệu, Nguyễn Thi, Tố Hữu…

Bên Cạnh các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu còn có các họa sĩ, các nhà điêu khắc nổi tiếng như: Nguyễn Văn Tý, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim... Một số bức tranh nổi tiếng nhu: “Tình quân dân”, “Hạnh phúc”, “du kích Cảnh Duơng” được sáng tác tại Quần Tín. Ngoài việc sáng tác, các hoạ sỹ còn mở các lớp học, hay nói chuyện sinh hoạt các câu  lạc bộ văn hoá tại nhà ông Vệ Tu (bà Mợi)(Hoạ sỹ Vũ Giáng Hương Học vẽ đầu tiên ở đây); Bài thơ màu tím hoa sim; bài ca vỡ Đất; đêm nay Bác không ngủ; Phá đường và nhiều tác phẩm văn học, hội học khác đã được sáng tác ở địa danh này.

Có thể nói, tuy các lớp về văn hoá kháng chiến chỉ  đuợc đào tạo ngắn hạn, trong điều kiện thiếu thốn về vật chất, các phuơng tiện đồ dùng học tập nhưng với sự nhiệt tình của người dạy và sự chăm chỉ miệt mài học tập của đội ngũ học viên nên các học viên sau khi ra truờng, có nhiều nguời thành  đạt, trở thành những người nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Nguyễn Mạnh Cầm - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tuớng chính phủ - Bộ trưởng  Bộ ngoại giao nuớc Cộng hoà  xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phan Diễn Ủy viên Bộ Chính trị, nhà văn Vũ Tú Nam - Tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam, Hoàng Trung Thông - Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, Thanh Huơng - Tổng biên tập  Báo Phụ nữ Việt Nam, Vũ Thị Giáng Huơng - Chủ  tịch  Liên  hiệp các văn học Nghệ thuật Việt  Nam, Giáo sư Vũ Tiên Hoàng, nhà thơ Minh Huệ, nhà thơ Cẩm Lai...

Nhµ «ng Lª §×nh Lam, khu rừng Mụ Đốp được chọn làm nơi ở và doanh trại cho Tưíng Nguyễn Sơn, Tại đây vị Tướng “lưỡng quốc” tài ba Nguyễn Sơn đã cưới cô Hoàng Huân (dì ruột của hoạ sỹ Vũ Giáng Hương) và sinh cô Nguyễn Thị Hà ở Quần Tín  ...

Bên cạnh việc đón tiếp các gia đình văn nghệ sỹ, Hội văn  nghệ Việt Nam, các nhà chính trị, quân sự đến sinh sống và làm việc nói trên còn, có các đồng chí đến công tác, đến học tập tại Truờng Văn  học Nghệ thuật như: Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Huyền Tuân, PhanVăn Vịnh, Vũ Tiên  Hoàng, Vũ Huyền Sao, Việt Hùng, Việt Hải, Trần Văn Giàu, Đại tá Hoàng Điềm, Hoàng Trung Thông, Hồng Chuơng, Trần Hữu Thung, Cẩm Lai, Nguyễn Hữu Loan, Minh Huệ, Nguyến Sỹ Ngọc...

Làng  Quần Tín còn là nơi thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả: Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 2 năm 1951, gia đình Hoàng  thân  Xu - Va - Nu - Vông đã đuợc bà con trong làng che chở, bảo vệ an toàn trong thời gian lưu trú tại làng. Có thể nói tấm  lòng  của bà con nhân dân làng Quần Tín đã thể hiện nghĩa tình thuỷ chung của mối tình truyền thống hữu nghị Việt Lào anh em. 

          Căn cứ vào các tiêu chí và giá trị của di tích. Ngày 31 tháng 1 năm 2013, Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh hoá đã ký Quyết định số 418- Bằng xếp hạng Di tích Cấp tỉnh -  Địa điểm khu lưu niệm Hội Văn nghệ Việt Nam  (thời kỳ 1947 – 1954) làng Quần Tín thuộc di tích lịch sử các mạng.

        Ngày 10 tháng giêng - ngày hội truyền thống của làng (ngày 19/2/2013), Đảng bộ Thọ Cường và nhân dân làng Quần Tín, long trọng tổ chức lể đón nhận  Bằng di tích lịch sử cách mạng, có các đồng chí đại diện cho các cấp huyện, tỉnh, Trung ương Hội Văn học Nghệ thuật về dự, là niềm tin, là bước khởi đầu cho tiếp tục nhiệm vụ tiếp theo là đề nghị xếp hạng công nhận di tích cấp quốc gia và cho xây dựng các công trình xứng tầm với khu di tích làm cơ sở để lưu danh các thế hệ đi trước, giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.

II. CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ.

1. Lịch sử hình thành làng xã.

Quá trình hình thành làng xã ở Thọ Cường là quá trình đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, với giặc dã để tồn tại và phát triển. Trong cuộc đấu tranh ấy, nhân dân Thọ Cường đã bồi đắp và sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phong phú, góp phần hình thành nên sắc thái văn hoá, cốt cách của người Triệu Sơn hôm nay.

Trải qua hàng trăm năm lịch sử, các đơn vị dân cư ở Thọ Cường đã nhiều lần thay đổi tên gọi, điều chỉnh địa giới hành chính và luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của huyện Thọ Xuân - Triệu Sơn.

Cho đến nay chưa tìm được tư liệu ghi chép cư dân đầu tiên đến cư trú ở Thọ Cường vào thời gian nào. Tuy nhiên, trong dân gia vẫn lưu truyền câu truyện: đầu thế kỉ XV, Lê Lợi hành quân qua và nghỉ lại ở làng Quần Tín, được thành hoàng làng báo mộng chỉ hướng cho nghĩa quân đi. Quả nhiên, trận ấy thắng lớn. Bỏ qua mọi yếu tố tâm linh, thần bí, có thể suy đoán rằng, cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV, khu vực này đã hình thành làng tương đối sầm uất. Theo truyền thuyết dân gian, cũng như các cứ liệu lịch sử thì làng Quần Tín được hình thành sớm hơn cả, sau đó cộng đồng dân cư trong xã từng bước hình thành, đa số xuất phát từ “cái nôi” Quần Tín (Tam Lộng), một số khác cư dân từ nơi khác đến lập thành làng lân cận.

Theo sách Tên làng xã đầu thế kỉ XIX (Các tổng, trấn, danh, bị, lãm)(2) do triều đình nhà Nguyễn biên soạn, giai đoạn này các làng của Thọ Cường thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa. Thời kì này tổng Tam Lộng có 17 xã, thôn, trong đó có thôn Quần Tín, thôn Cự, thôn Sống…thuộc xã Thọ Cường ngày nay(3).

Đến cuối thế kỉ XIX, theo sách Đồng Khánh Địa chí dư (1885 – 1888), tổng Tam Lộng có 30 xã, thôn, so với đầu thế kỉ thêm 13 thôn, trong đó thấy có thôn Nỗ Kiến. Như vậy thời kì này xã Thọ Cường có 4 thôn là Quần Tín, thôn Cự, thôn An Sinh (thôn Sống trước kia) và thôn Nỗ Kiến, cả 4 thôn này đều thuộc xã Tam Lộng.(4) Như vậy có thể khẳng định cả 4 làng truyền thống trong xã Thọ Cường ngày nay đều có chung nguồn gốc.

            Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng của Thọ Cường ngày nay vẫn thuộc tổng Tam Lộng huyện Thọ Xuân. Từ  tháng 12 năm 1945 đơn vị tổng bị bãi bỏ các làng của Thọ Cường thuộc xã Đại Đồng huyện Thọ Xuân. Năm 1947, xã Đại Đồng sáp nhập với Duy Tân (nay là Thọ Ngọc) và xã Thọ Sơn, thành xã Đoàn Kết, đến năm 1948 đổi thành xã Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Đến tháng 9 năm 1953, Thọ Xuân chia 22 xã lớn thành 54 xã, xã Thọ Ngọc chia thành các xã: Thọ Cường, Thọ Ngọc, Thọ Sơn, các làng Quần Tín, Yên Sinh (làng Sống), thôn Cự, Nỗ Kiến thuộc xã Thọ Cường, Huyện Thọ Xuân, Từ năm 1965 đến đến nay là xã Thọ Cường thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1991, theo Quyết định 787 của UBND tỉnh Thanh Hóa, hình thành các thôn trên cơ sở các đội sản xuất của HTX nông nghiệp toàn xã, cùng với chức danh bầu trưởng thôn, xã Thọ Cường có 9 thôn, nay gọi là làng văn hóa gồm: Quần Tín, Yên Sinh, Nỗ Kiến, Yên Tiến, Cự tín, Cự Tiến, Nông Sơn, Đồng Cầu, Ngọc Thanh.

Để hiểu rõ hơn nguồn gốc hình thành cư dân nơi đây, xin được khái lược về lịch sử hình thành các làng.

          Làng Quần Tín.

           Tục truyền rằng trước thế Kỷ 14, có ba anh em ông Lê Tộc Căn người làng Trung (nay thuộc xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn) Theo vết đàn cò đến làng Quần Tín (với quan niệm đất lành cò đậu) để khai phá rừng rậm, khai khẩn đất đai, sinh cơ lập nghiệp và lập nên làng, gọi làng là Cò Soi (cò soi đường). Trước làng có giếng nước thiêng do cô Tiên khi gánh một bên là núi Ngọc, một bên là núi Nưa, chẳng may bị sỉa chân mà thành giếng. Tương truyền dưới đáy giếng vẫn còn nguyên hình gót chân cô Tiên in trên khối tảng đá. Cả hai ngọn núi này đều trở thành núi thiêng. Núi ngàn Nưa là nơi bà Triệu luyện binh khởi nghĩa có Huyệt đạo quốc gia, núi Ngọc của xã cũng là một nơi đầy huyền bí với bao huyền thoại về Bà Triệu, Lê Lợi, từng là địa điểm dã ngoại huấn luyện tân binh của bộ đội thời chống Mỹ.

        Chuyện kể rằng, vào đầu thế kỷ XIV, Bình Định Vương Lê Lợi hành quân qua và nghỉ tại làng đã được dân làng đón tiếp ân cần, cung cấp lương thảo. Ban đêm Lê Lợi được vị thần báo mộng rằng: “sáng sớm nhà ngươi ra giếng làng, thấy làn khói bốc lên từ  giếng bay về hướng nào thì tiến quân về hướng ấy ắt thắng trận”. Quả nhiên, trận ấy Bình Định Vương Lê Lợi thắng lớn, khi trở về, nhà vua đã sắc phong ban thưởng cho dân làng và đặt tên làng là làng Quần Tín (nơi hội tụ của niềm tin), cho lập đền thờ vị thần làm thành hoàng làng vào ngày mùng 10 tháng giêng, từ đó đến nay làng lấy ngày này làm ngày hội truyền thống của làng.

          Đầu thế kỷ thứ XIX thời vua Gia Long (1802-1819) làng Quần Tín thuộc tổng Tam Lộng, Huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa; Đến thời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) Quần Tín là một trong 6 thôn (An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến)  thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 làng Quần Tín vẫn thuộc Tổng Tam Lộng, huyện Thọ Xuân. Từ  tháng 12 năm 1945 làng Quần Tín  thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân. Từ năm 1947 đến tháng 9 năm 1953 thuộc xã Đoàn Kết, sau đổi thành xã Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Từ tháng 10 năm 1953, huyện Thọ Xuân chia 22 xã lớn thành 54 xã, làng Quấn Tín thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân. Từ tháng 2 năm 1965 đến nay làng Quần Tín thuộc xã Thọ Cường huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

              Làng Quần Tín là vùng đất nóng bỏng trong chiến tranh Trịnh – Mạc ở thế kỷ XVII. Đồng thời cũng là vùng đất lịch sử sôi động với phong trào Cần Vương chống Pháp ở thế kỷ XIX, sự quật khởi của nhân dân trong Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi ở địa phương. Đặc biệt là nơi ở tản cư và hoạt động của Hội Văn Nghệ Việt Nam thời kỳ 1947 – 1954. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Quần Tín đã đón tiếp, trở che, bảo vệ nhiều cán bộ của Đảng và Nhà nước, tướng lĩnh trong quân đội, đặc biệt là nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà điêu khắc…tên tuổi đã từng công tác và học tập tại đây. Ghi nhận những thành tích đóng góp của Quần Tín, ngày 31 tháng 1 năm 2013, Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh hoá đã ký Quyết định số 418 Bằng xếp hạng: Địa điểm khu lưu niệm Hội Văn nghệ Việt Nam (thời kỳ 1947 – 1954) làng Quần Tín thuộc di tích lịch sử các mạng cấp tỉnh.

   Làng Yên Sinh và làng Yên Tiến:

Đây cũng là một làng có truyền thống phát triển lâu đời. Vào đời vua Gia Long (1802 – 1819) làng có tên gọi là thôn Sống, thuộc tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa; đến thời vua Minh Mạng thứ hai (1821) làng Sống được đổi là thôn Yên Sinh, đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) thôn Yên Sinh là một trong 6 thôn (An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến) thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thôn Yên Sinh vẫn thuộc Tổng Tam Lộng, Huyện Thọ Xuân, Từ  tháng 12 năm 1945 đơn vị tổng bị bãi bỏ thôn Yên Sinh thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân. Từ năm 1948 đến tháng 9 năm 1953 thuộc xã Đoàn Kết, sau đổi thành xã Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Từ tháng 10 năm 1953 làng Yên Sinh thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân. Từ tháng 2 năm 1965 thuộc xã Thọ Cường, huyện Triệu Sơn và được chia thành 2 làng: làng Yên Sinh, làng Yên Tiến và duy trì ổn định tới nay.

            Làng Kiến An:

Cho đến nay chưa xác định được khi mới thành lập tên làng như thế nào. Trong sách Địa chí huyện Triệu Sơn, xuất bản năm 2010 cho rằng Nỗ Kiến có từ đầu thế kỉ XIX. Đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888), Nỗ Kiến là một trong 6 thôn (An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến) thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Sau cách mạng tháng tám năm 1945 thôn Nỗ Kiến thuộc Tổng Tam Lộng Huyện Thọ Xuân. Từ  tháng 12 năm 1945 đơn vị Tổng bị bãi bỏ, làng Kiến An  thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân, từ năm 1947 đến tháng 9 năm 1953 thuộc xã Đoàn Kết, sau đổi thành Thọ Ngọc, trong tổng số 22 xã lớn của huyện Thọ Xuân. Từ tháng 10 năm 1953 làng Kiến An thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân và từ tháng 2 năm 1965 đến nay làng Quần Tín thuộc xã Thọ Cườnghuyện Triệu Sơn. tỉnh Thanh Hóa.    

Làng Cự Tiến, Cự Tín:

Trong sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX, vào đời vua Gia Long, thôn Cự thuộc xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa. Sách Đồng Khánh địa chí dư (1885 – 1888) xuất bản vào thời Nguyễn, cũng như sách Dư địa chí huyện Triệu Sơn xuất bản năm 2010 đều ghi: cuối thế kỉ XIX, thôn Cự là một trong 6 thôn gồm: An Sinh, thôn Cự, thôn Cừ, Hoành Cừ, Quần Tín, Nỗ Kiến của xã Tam Lộng, tổng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Sau Cách mạng Tháng Tám, thôn Cự vẫn thuộc tổng Tam Lộng, huyện Thọ Xuân. Từ tháng 12 năm 1945, cấp tổng bị giải thể, thôn Cự thuộc xã Đại Đồng, huyện Thọ Xuân. Từ năm 1947 đến năm 1953, thôn cự thuộc xã Đoàn Kết, (sau đổi thành xã Thọ Ngọc,) huyện Thọ Xuân. Từ năm 1953, chia các xã lớn thành các xã có quy mô nhỏ hơn, xã Thọ Cường ra đời, thôn Cự thuộc xã Thọ Cường, huyện Thọ Xuân. Theo Địa chí huyện Triệu Sơn thì thời kì này làng được chia thành 2 thôn là Cự Tiến và Cự Tín. Từ tháng 2 năm 1965 đến nay hai thôn Cự Tiến và Cự Tín thuộc xã Thọ Cường, huyện Triệu Sơn.

Làng Nông Sơn: được tách ra từ làng Quần Tín, khai trương xây dựng làng văn hóa vào ngày 28 tháng 4 năm 2005. 

Làng Ngọc Sơn: được hình thành từ năm 1965 chủ yếu là dân di cư từ Nam Hà, Nam Định vào trước đây.và gọi là thôn 2, đến năm 2013 khai trương xây dựng làng văn hóa và đặt tên là làng Ngọc Sơn.

  Làng Đồng Cầu: Được thành lập từ năm 1991, là làng mới được tách ra từ làng Yên Sinh, Kiến An và một số hộ dân làng Quần Tín, Cự Tín, Cự Tiến, yên Tiến, Làng đã tổ chức khai trương xây dựng làng văn hóa ngày 16 tháng 12 năm 2005, được công nhận làng văn hóa cấp huyện ngày 21 tháng 7 năm 2013.

Có thể thấy quá trình hình thành và phát triển công đồng dân cư ở Thọ Cường kéo dài qua nhiều thế kỉ. Có làng hình thành từ trước thế kỉ XV như làng Quần Tín, có làng chỉ được hình thành từ năm 1991, khi UBND tỉnh Thanh Hóa có chủ trương chuyển đổi mô hình đội sản xuất trong HTX nông nghiệp toàn xã thành thôn như làng Đồng Cầu. Có những làng như Ngọc Sơn (thôn 2) năm 2013, khi khai trương xây dựng làng văn hóa mới chính thức có tên làng. Xã Thọ Cường cũng đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và tên gọi, luôn gắn liền với phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân xã nhà. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, nhân dân Thọ Cường đã đoàn kết một lòng và tạo dựng nên những giá trị vật chất và tinh thần phong phú. Đó là cội nguồn sức mạnh để lớp lớp người Thọ Cường viết nên những truyền thống tốt đẹp của quê hương.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                  Chương II

THAM GIA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, GÓP PHẦN CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH  THẮNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1930-1954) 

 

           I.        THỌ CƯỜNG THAM GIA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945.

         Vào những năm cuối của thế kỉ XIX và những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào đấu tranh yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản không giành được thắng lợi vì thiếu đường lối khoa học và cách mạng triệt để. Những năm 20 của thế kỉ XX, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê nin, tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Lúc bấy giờ “ Người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú phải có nhiệm vụ thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”.(5) Sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng là việc ra đời tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạnh đồng chí Hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trên cơ sở này, năm 1926, đồng chí Lê Hữu Lập về Thanh Hóa thành lập “Hội đọc sách báo cách mạng”. Cũng trong năm này “Hội đọc sách báo cách mạng ở Thọ Xuân được thành lập, do đồng chí Nguyễn Mậu Sung khởi xướng, tại làng Quần Kênh (nay thuộc xã Xuân Giang). Từ đây phong trào cách mạng ở Thọ Xuân có bước phát triển mới.

Thời kì này, phong trào cách mạng ở Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Để thống nhất các tổ chức Cộng sản, ngày 2 tháng 3 năm 1930, tại Hương Cảng, dưới sự chủ trì